Bước tới nội dung

Venezuela

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Cộng hòa Bolivar Venezuela
Tên bản ngữ

Tiêu ngữDios y Federación (tiếng Tây Ban Nha)
(tiếng Việt: "Chúa và Liên bang")

Quốc caGloria al Bravo Pueblo (tiếng Tây Ban Nha)
(tiếng Việt: "Vinh quang Nhân dân Anh hùng")
Venezuela (xanh đậm), lãnh thổ tranh chấp nhưng không kiểm soát (xanh nhạt)
Tổng quan
Thủ đô
và thành phố lớn nhất
Caracas
10°28′50″B 66°54′13″T / 10,48056°B 66,90361°T / 10.48056; -66.90361
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Tây Ban Nha[b]
• Ngôn ngữ địa phương được công nhận
Sắc tộc
(2011)[1]
Tôn giáo
(2020)[2]
  • 5.5% không tôn giáo
  • 1.1% Spiritism, Birongo
  • 0.8% other
Tên dân cưNgười Venezuela
Chính trị
Chính phủCộng hòa tổng thống chế liên bang
Delcy Rodríguez (tạm quyền)
Delcy Rodríguez
Lập phápQuốc hội
Lịch sử
Độc lập 
5 tháng 7 năm 1811
• từ Đại Colombia
13 tháng 1 năm 1830
• Công nhận
29 tháng 3 năm 1845
20 tháng 12 năm 1999[3]
Địa lý
Diện tích 
• Tổng cộng
916,445[4] km2 (hạng 32)
353,841 mi2
• Mặt nước (%)
3.2%[d]
Dân số 
• Ước lượng 2023
Tăng 30,518,260[5] (hạng 53)
33.74/km2 (hạng 144)
87,42/mi2
Kinh tế
GDP  (PPP)Ước lượng 2023
• Tổng số
Tăng 211,926 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 81)
Tăng 7.985 đô la Mỹ[6] (hạng 159)
GDP  (danh nghĩa)Ước lượng 2023
• Tổng số
Tăng 92,210 tỷ đô la Mỹ[6] (hạng 94)
• Bình quân đầu người
Tăng 3.474 đô la Mỹ[6] (hạng 145)
Đơn vị tiền tệBolívar Venezuela (VED) (chính thức)
Đô la Mỹ (USD) (trên thực tế)
Thông tin khác
Gini? (2013)Tăng theo hướng tiêu cực 44.8[7]
trung bình
HDI? (2023)Tăng 0.709[8]
cao · hạng 121
Múi giờUTC−04:00 (Giờ Venezuela)
Cách ghi ngày thángdd/mm/yyyy (CN)
Giao thông bênphải
Mã điện thoại+58
Mã ISO 3166VE
Tên miền Internet.ve
  1. ^ "Cộng hòa Bolivar Venezuela" là quốc hiệu đầy đủ chính thức kể từ khi Hiến pháp Venezuela năm 1999 được thông qua, khi quốc gia này được đổi tên để vinh danh Simón Bolívar.
  2. ^ Hiến pháp cũng công nhận tất cả các ngôn ngữ bản địa được nói trong nước.
  3. ^ Một số nhóm nhỏ quan trọng bao gồm những người gốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, người Mỹ bản địa, người gốc Phi, người gốc Ả Rập và người gốc Đức.
  4. ^ Tổng diện tích chỉ bao gồm lãnh thổ do Venezuela quản lý.
  5. ^ Vào ngày 1 tháng 10 năm 2021, một loại tiền bolivar mới đã được giới thiệu, đó là "Bolívar kỹ thuật số" (mã ISO 4217 là VED) với mệnh giá 1.000.000 VES.

Venezuela,[a] quốc hiệu là Cộng hòa Bolivar Venezuela,[b] là một quốc gia thuộc khu vực Nam Mỹ. Venezuela tiếp giáp với Guyana về phía đông, với Brazil về phía nam, Colombia về phía tây và biển Caribbean về phía bắc. Nhiều hòn đảo nhỏ ngoài khơi biển Caribbean cũng thuộc chủ quyền của Venezuela. Thuộc khu vực nhiệt đới, khí hậu Venezuela đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sinh vật phát triển với nhiều khu bảo tồn thiên nhiên hoang dã. Diện tích nước này là 916.445 km², dân số khoảng 28 triệu người.

Lãnh thổ hiện được gọi là Venezuela đã bị Đế chế Tây Ban Nha xâm lược vào năm 1522 trong bối cảnh sự kháng cự của người thổ dân bản địa. Năm 1811, Venezuela trở thành một trong những thuộc địa của Đế chế Tây Ban Nha đầu tiên tuyên bố độc lập, tuy vậy chỉ giành được toàn bộ lãnh thổ cho đến năm 1821, khi Venezuela là một phần của nước Cộng hòa Colombia (Đại Colombia). Venezuela giành được độc lập hoàn toàn như một quốc gia vào năm 1830, sau khi Đại Colombia sụp đổ. Trong thế kỷ XIX, Venezuela phải chịu bất ổn chính trị và chuyên quyền, vẫn bị chi phối bởi Caudillos (những thủ lĩnh về quân sự) cho đến giữa thế kỷ 20. Từ năm 1958, đất nước này đã có một loạt các chính phủ dân chủ. Những cú sốc kinh tế trong những năm 1980 và 1990 đã dẫn đến một số cuộc khủng hoảng chính trị, bao gồm các cuộc bạo loạn Caracazo chết chóc năm 1989, hai cuộc đảo chính đã cố gắng vào năm 1992 và luận tội Tổng thống Carlos Andrés Pérez vì tham ô các quỹ công cộng vào năm 1993. Sự sụp đổ niềm tin vào hiện tại các đảng đã chứng kiến cuộc bầu cử năm 1998 của cựu sĩ quan sự nghiệp liên quan đến đảo chính do Hugo Chávez lãnh đạo và khởi động Cách mạng Bolivar. Cuộc cách mạng bắt đầu với một Quốc hội lập hiến năm 1999, nơi một bản Hiến pháp mới của Venezuela được lập ra. Hiến pháp mới này chính thức đổi tên quốc gia thành Cộng hòa Bolivar Venezuela (tiếng Tây Ban Nha: República Bolivariana de Venezuela).

Venezuela là một trong những quốc gia có tốc độ đô thị hóa cao nhất Mỹ Latinh. Đa phần dân cư Venezuela tập trung sinh sống tại những thành phố lớn phía bắc. Caracas là thủ đô và đồng thời cũng là thành phố lớn nhất Venezuela. Venezuela đã từng nổi tiếng khắp thế giới với cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, nguồn tài nguyên dầu mỏ khổng lồ và những nữ hoàng sắc đẹp đoạt nhiều giải cao tại những kỳ thi quốc tế. Tuy nhiên đến những năm gần đây, sự bất ổn của giá dầu mỏ cùng những chính sách điều hành kinh tế sai lầm là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về mọi mặt đối với Venezuela, gây ra khủng hoảng chính trị, sự siêu lạm phát, suy thoái kinh tế, thiếu hụt các mặt hàng cơ bản cho người dân và một sự tăng mạnh của tỷ lệ thất nghiệp, nghèo đói, bệnh tật, tử vong, suy dinh dưỡng ở trẻ em cũng như tội phạm cùng tệ nạn xã hội tại quốc gia này.[9][10][11][12][13]

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ địa hình Venezuela

Venezuela nằm ở phía bắc Nam Mỹ, tiếp giáp với biển Caribbean về phía bắc. Nước này có đường bờ biển dài hơn 2800 km, khiến ảnh hưởng của biển đối với khí hậu Venezuela tương đối lớn.

Địa hình Venezuela có thể chia làm ba vùng chính:

  • Vùng Tây Bắc: đây là nơi có độ cao lớn nhất của Venezuela. Những dải núi cực đông bắc của dãy Andes lấn vào lãnh thổ Venezuela và mở rộng ra tận đường bờ biển phía bắc của nước này. Đây là nơi tọa lạc của đỉnh núi cao nhất Venezuela, đỉnh Pico Bolívar cao 4979 m.
  • Vùng Trung tâm: là vùng có những đồng bằng rộng lớn. Các đồng bằng bằng phẳng với đất đai màu mỡ trải dài từ biên giới với Colombia ở phía tây đến tận vùng châu thổ sông Orinoco.
  • Vùng Nam: phần lớn vùng này là Cao nguyên Guiana với độ cao trung bình. Thác Angel, thác nước cao nhất thế giới nằm tại khu vực này.

Tuy nhiên, do sự đan xen phức tạp của các dạng địa hình, Venezuela có thể được chia làm 10 khu vực địa lý khác nhau, tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều hệ sinh thái với các loài động thực vật vô cùng đa dạng, trong đó có nhiều loài động thực vật đặc hữu của riêng đất nước này. Venezuela có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên với cảnh quan đa dạng.

Mặc dù hầu như nằm trọn trong khu vực nhiệt đới, khí hậu Venezuela lại thay đổi khác nhau giữa các vùng. Tại những vùng đồng bằng, nhiệt độ và độ ẩm thường cao với nhiệt độ trung bình năm khoảng 28 °C, trong khi ở những vùng đồi núi cao thì nhiệt độ trung bình chỉ ở mức 8 °C. Lượng mưa cũng thay đổi từ mức 430 mm ở vùng bán hoang mạc tây bắc lên đến hơn 1000 mm ở vùng châu thổ Orinoco.

Tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi Venezuela được bắt nguồn từ chuyến hải trình của nhà vẽ bản đồ Amerigo Vespucci cùng với nhà thám hiểm Alonso de Ojeda đến bờ biển tây bắc vịnh Venezuela năm 1499. Khi đến bán đảo Guajira, Vespucci đã bắt gặp những ngôi nhà lá của thổ dân da đỏ được dựng trên mặt nước và khiến ông liên tưởng đến thành phố Venice (tiếng Italia: Venezia). Ông đã đặt tên cho vùng đất này là Venezuola, trong tiếng Italia có nghĩa là "Venice nhỏ". Trong tiếng Tây Ban Nha, cụm từ zuela dùng với vai trò giảm nghĩa tương tự như zuola trong tiếng Ý được ghép thay vào để hình thành cái tên Venezuela.

Bên cạnh đó, nhà địa lý người Tây Ban Nha Martin Fernandez de Enciso, một thủy thủ đoàn của Ojeda đã nêu trong tác phẩm Summa de Geografía của mình rằng những thổ dân da đỏ tại vùng này tự gọi mình là Veneciuela, và cái tên Venezuela được bắt nguồn từ tên gọi đó. Song, câu chuyện của Vespuccia lại được chấp nhận rộng rãi hơn cả về nguồn gốc tên gọi đất nước Venezuela.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Những bằng chứng khảo cổ cho thấy, con người đã định cư tại vùng đất Venezuela từ 13.000 năm trước công nguyên. Những mũi giáo săn bắn của người bản địa đã được xác định có niên đại trong khoảng từ 13000 đến 7000 năm về trước. Khi người Tây Ban Nha khám phá ra vùng đất này, những bộ lạc thổ dân da đỏ như người Mariche đã đứng lên chống lại. Tuy nhiên những cuộc khởi nghĩa của người da đỏ nhanh chóng thất bại và họ dần dần bị người Tây Ban Nha tiêu diệt.

Năm 1522, người Tây Ban Nha bắt đầu thiết lập các thuộc địa đầu tiên ở Venezuela. Thời gian đầu, miền đông Venezuela được sáp nhập vào một thuộc địa lớn với tên gọi New Andalusia. Đến đầu thế kỷ XVIII, Venezuela lại được sáp nhập vào thuộc địa Tân Granada.

Dưới sự thống trị hà khắc của phong kiến Tây Ban Nha, nhân dân Venezuela đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh nhưng không thành công. Ngày 5 tháng 7 năm 1811, nước Cộng hòa Venezuela tuyên bố độc lập. Francisco de Miranda, một chỉ huy từng tham gia Cách mạng Pháp và chiến tranh giành độc lập Bắc Mỹ quay trở về lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân Venezuela. Năm 1812, quân Tây Ban Nha quay trở lại tấn công, Miranda bị bắt về Tây Ban Nha và chết trong ngục. Cuộc đấu tranh sau đó vẫn tiếp tục với nền Cộng hòa thứ hai được thành lập vào ngày 7 tháng 8 năm 1813 nhưng rồi cũng nhanh chóng sụp đổ.

Chiến thắng Carabobo 1821

Dưới sự lãnh đạo của người anh hùng dân tộc Simón Bolívar, Venezuela đã giành được độc lập với chiến thắng Carabobo vào ngày 24 tháng 6 năm 1821. Quốc hội mới của New Granada trao quyền lãnh đạo quân đội cho Bolivar và ông đã giải phóng thêm nhiều vùng đất mới, thành lập nên nước Đại Colombia (Gran Colombia) bao gồm Venezuela, Colombia, EcuadorPanama ngày nay. Venezuela trở thành một phần của Đại Colombia cho đến năm 1830, khi nước này tách ra để thành lập một quốc gia mới.

Thế kỷ XIX đánh dấu một giai đoạn đầy biến động của lịch sử Venezuela với những cuộc khủng hoảng chính trị và chế độ độc tài quân sự. Nửa đầu thế kỷ XX, các tướng lĩnh quân đội vẫn kiểm soát nền chính trị của Venezuela mặc dù cũng chấp nhận một số cải cách ôn hòa và thúc đẩy kinh tế phát triển. Sau khi nhà độc tài Juan Vicente Gomez qua đời vào năm 1935, những phong trào dân chủ tại Venezuela cuối cùng đã loại bỏ sự thống trị của quân đội vào năm 1958 và tổ chức những cuộc bầu cử tự do.

Dầu mỏ được phát hiện tại Venezuela đã mang lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế đất nước, thu nhập quốc dân được nâng cao. Đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai, những dòng người nhập cư từ Nam Âu như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý cũng như những nước Mỹ Latinh nghèo hơn đã khiến xã hội của Venezuela trở nên vô cùng đa dạng.

Giá dầu mỏ sụt giảm trong thập niên 1980 đã khiến nền kinh tế Venezuela khủng hoảng sâu sắc. Việc phá giá tiền tệ càng làm cho đời sống của người dân Venezuela bị hạ thấp. Những chính sách kinh tế thất bại và mâu thuẫn chính trị đã đẩy đất nước Venezuela vào khủng hoảng trầm trọng, thể hiện rõ nhất qua hai cuộc đảo chính trong cùng năm 1992.

Tháng 2 năm 1992, viên sĩ quan quân đội Hugo Chavez đã tiến hành đảo chính nhưng thất bại. Đến tháng 11 cùng năm, những người ủng hộ Hugo Chavez lại một lần nữa tiến hành đảo chính song không thành công.[14] Tuy nhiên, Chavez đã giành được nhiều thiện cảm của nhân dân Venezuela và ông đã chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Venezuela 1998 với tỉ lệ 56%.

Sau khi lên nắm quyền, ông Hugo Chavez đã lãnh đạo đất nước Venezuela theo đường lối cánh tả và giúp nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, ông cũng vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của phe đối lập. Năm 2002, phe đối lập tại Venezuela tiến hành đảo chính song thất bại. Bạo loạn và đình công đã khiến kinh tế Venezuela một lần nữa rơi vào khủng hoảng, nặng nề nhất là vào năm 2003. Đến năm 2004, ông Hugo Chavez vượt qua cuộc trưng cầu ý dân về việc bãi nhiệm tổng thống với tỉ lệ 59%. Ông được bầu làm tổng thống cho một nhiệm kỳ khác vào tháng 12 năm 2006 và tái đắc cử nhiệm kỳ thứ ba vào tháng 10 năm 2012. Chávez qua đời vào ngày 5 tháng 3 năm 2013 sau một cuộc chiến chống ung thư kéo dài gần hai năm. Nghèo đói và lạm phát bắt đầu gia tăng chóng mặt trong những năm 2010. Nicolás Maduro được bầu vào năm 2013 sau cái chết của Chavez. Năm 2014, Venezuela đã lâm vào một cuộc suy thoái kinh tế nghiêm trọng. Đến năm 2015, Venezuela trở thành nước có tỷ lệ lạm phát cao nhất thế giới, xấp xỉ 1.000.000% đầu năm 2018 [15] Các vấn đề về kinh tế, cũng như tội phạm, cướp bóc, đặc biệt là cướp bóc lương thực và tham nhũng, là một trong những nguyên nhân chính gây ra một loạt các cuộc biểu tình của nhân dân Venezuela trong những năm 2014–2018. Hầu hết thực phẩm, thuốc men đều thiếu thốn, các mặt hàng nhu yếu phẩm khác cực kì xa xỉ, vượt với tầm tay của hầu hết người dân tại nước này.

Kể từ tháng 2 năm 2014, hàng trăm nghìn người Venezuela đã xuống biểu tình phản đối tham nhũng, siêu lạm phát và tình trạng khan hiếm hàng hóa cơ bản kinh niên do các chính sách của chính phủ Maduro.[16][17][18] Các cuộc biểu tình và bạo loạn đã dẫn đến hơn 40 người thiệt mạng trong cuộc xung đột giữa những người ủng hộ chính phủ với những người biểu tình đối lập và các nhà lãnh đạo đối lập, trong đó hai nhân vật đối lập là Leopoldo López và Antonio Ledezma đã bị bắt giữ. Các nhóm nhân quyền đã lên án việc bắt giữ López. Cuối năm 2014, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã áp đặt thêm các biện pháp trừng phạt đơn phương đối với các quan chức Venezuela tham gia vào việc đàn áp các cuộc biểu tình.[19]  

Vào mùa hè năm 2015, quân đội Venezuela đã khởi xướng một chiến dịch đáp trả các cuộc tấn công của lực lượng bán quân sự đối lập nhắm vào cảnh sát và các cơ sở xã hội dân sự..[20] Trong cuộc bầu cử quốc hội Venezuela năm 2015 , phe đối lập giành được đa số hai phần ba ghế. Phe đối lập tìm cách bãi bỏ nhiều luật thời Chavez, chẳng hạn như luật quốc hữu hóa ngành viễn thông và phát thanh truyền hình, cũng như đảm bảo ân xá cho các nhà lãnh đạo đối lập bị giam giữ bị buộc tội tham nhũng hoặc lãnh đạo các cuộc biểu tình bạo lực.[21] Họ cũng xem xét một chiến dịch bãi nhiệm Maduro, nhưng điều này không thành công. Phe đối lập đã thông qua đạo luật ân xá cho các tội phạm bị truy tố và bắt giữ bởi chế độ Chavez từ tháng 1 năm 1999, bao gồm cả những người đã tham gia vào cuộc đảo chính nhằm lật đổ Chavez năm 2002.

Vào tháng 1 năm 2016, Maduro đã ban hành sắc lệnh "tình trạng khẩn cấp kinh tế". [22] Chính phủ đã thành lập các ủy ban để giám sát việc phân phối thực phẩm tại các địa phương, còn được gọi là CLAP..[23] Người dân Venezuela, bao gồm cả một số người theo chủ nghĩa Chavista, đã chỉ trích chính phủ vì quá mềm mỏng với tham nhũng.[23] Vào tháng 7 năm 2016, các cửa khẩu biên giới với Colombia đã tạm thời được mở để cho phép người Venezuela mua thực phẩm và các mặt hàng y tế cơ bản.[24]  Vào tháng 9 năm 2016, một nghiên cứu chỉ ra rằng 15% người dân Venezuela đang ăn " thức ăn thừa bị các cơ sở thương mại vứt bỏ". Có khoảng 200 cuộc bạo loạn trong các nhà tù đã xảy ra vào tháng 10 năm 2016.[25][26]

Tòa án Tối cao Venezuela, vốn liên minh với Maduro, đã bãi bỏ nhiều đạo luật của Quốc hội kể từ khi phe đối lập nắm quyền vào năm 2015. Họ cũng đã tiếp quản các chức năng của quốc hội, điều này tạo ra cuộc khủng hoảng hiến pháp Venezuela năm 2017.[27] Tháng 8 năm 2017, Quốc hội Lập hiến năm 2017 đã được bầu và tước bỏ quyền lực của Quốc hội cũ.[28] Cuộc bầu cử này đã làm dấy lên lo ngại về một chế độ độc tài đang nổi lên. Vào tháng 12 năm 2017, Maduro tuyên bố các đảng đối lập bị cấm tham gia cuộc bầu cử tổng thống năm 2018.[29] Các nhà lãnh đạo đối lập và một số phương tiện truyền thông quốc tế lên án chính phủ của Maduro là một chế độ độc tài.[27][30][31]

Vào tháng 8 năm 2017, chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã áp đặt thêm các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với PDVSA (công ty dầu khí nhà nước) và các quan chức Venezuela.[32][33][34]  Các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với Venezuela đã leo thang trong hai năm tiếp theo như một phần trong chiến lược "gây áp lực tối đa" của chính quyền Trump đối với chính phủ Maduro. Các biện pháp trừng phạt năm 2017 đã cấm công dân Mỹ mua lại các khoản nợ của Venezuela và chặn các khoản thanh toán cổ tức cho công dân Mỹ, góp phần làm tê liệt tài chính của PDVSA. Một vòng trừng phạt khác vào năm 2018 và 2019 đã áp đặt lệnh cấm vận đối với vàng, dầu mỏ, tài chính, quốc phòng và các thực thể công và tư nhân khác. 22 tỷ USD tài sản của Venezuela ở nước ngoài đã bị đóng băng. Chính quyền Trump đã gây áp lực lên các thực thể không thuộc Mỹ phải giảm việc mua dầu của Venezuela và đe dọa các tổ chức tài chính châu Âu để họ từ bỏ các khách hàng tới từ Venezuela. Francisco Rodríguez (nhà kinh tế người Venezuela) cho biết các lệnh trừng phạt này là nguyên nhân gây ra sự sụt giảm tới 59% trong sản lượng dầu của Venezuela sau tháng 8 năm 2017. Các lệnh trừng phạt đã khiến các ngân hàng quốc tế chặn các khoản thanh toán cho thuốc men của Venezuela vì họ lo sợ bị Văn phòng Kiểm soát Tài sản Nước ngoài của Hoa Kỳ trừng phạt.[35]

Maduro đã thắng cuộc bầu cử năm 2018 với 68% số phiếu bầu. Kết quả này đã bị Argentina, Chile, Colombia, Brazil, Canada, Đức, PhápMỹ phản đối, Mỹ cho rằng cuộc bầu cử này gian lận và công nhận Juan Guaidó là tổng thống.[36][37][38]  Các quốc gia khác tiếp tục công nhận Maduro[39][40]. Vào tháng 8 năm 2019, Trump đã áp đặt lệnh cấm vận kinh tế đối với Venezuela.[41]  EUCanada cũng trừng phạt Venezuela. Từ năm 2014 đến năm 2020, Venezuela đã mất đi 99% nguồn thu nhập ngoại tệ.[42]

Vào tháng 3 năm 2020, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã truy tố Maduro và các quan chức Venezuela với tội danh buôn bán ma túy và tham nhũng.[43] Vào tháng 5 năm 2020, những người bất đồng chính kiến ​​Venezuela được Silvercorp USA hậu thuẫn đã cố gắng xâm nhập Venezuela bằng đường biển và lật đổ Maduro trong cái được gọi là Chiến dịch Gideon.[44] Chủ sở hữu của Silvercorp, một cựu trung sĩ đặc nhiệm Hoa Kỳ, cho biết ông đã gặp và bàn bạc với các quan chức chính quyền Trump về kế hoạch này.[45]  Năm 2021, các tổ chức tài chính Mỹ và châu Âu đã chặn các khoản thanh toán của Venezuela để mua Covax nhằm ngăn cản nước này mua vắc xin COVID-19. Các lệnh trừng phạt cũng ngăn Venezuela có được chất pha loãng dầu, một chất cần thiết để biến loại dầu thô nặng mà nước này dùng để sản xuất sản phẩm dầu mỏ có thể xuất khẩu. Một thỏa thuận năm 2021 với Iran đã cho Venezuela tiếp cận các chất pha loãng này, qua đó giúp nước này tăng sản lượng dầu một cách khiêm tốn.[42]

Venezuela đã từ một trong những quốc gia giàu nhất ở Mỹ Latinh trở thành một trong những quốc gia nghèo nhất.[46]  Từ năm 2013 đến năm 2020, nền kinh tế nước này đã suy giảm 80%.[42] Kết quả là, cuộc khủng hoảng người tị nạn Venezuela, cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử Mỹ Latinh, đã xảy ra, với hơn 7 triệu người - khoảng 20% ​​dân số cả nước - phải di cư ra nước ngoài.[47][48][49]

Theo Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW), từ năm 2016 đến năm 2019, lực lượng an ninh Venezuela đã giết hại hơn 19.000 người vì cáo buộc "chống đối chính quyền". HRW cho biết bằng chứng cho thấy nhiều vụ giết người là các vụ hành quyết ngoài vòng pháp luật.[50]  Báo cáo cho biết lực lượng an ninh Venezuela cũng đã tra tấn các nạn nhân một cách dã man.[51][52]

Maduro tranh cử nhiệm kỳ thứ ba liên tiếp trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2024 , trong đó nhà ngoại giao Edmundo González Urrutia đại diện cho Nền tảng Thống nhất ( tiếng Tây Ban Nha : Plataforma Unitaria Democrática ; PUD), một liên minh chính trị đối lập với Maduro.[53][54] Các cuộc thăm dò được tiến hành trước cuộc bầu cử cho thấy González sẽ thắng Maduro với cách biệt lớn. Sau khi Hội đồng Bầu cử Quốc gia (CNE) do chính phủ kiểm soát công bố kết quả sơ bộ cho thấy Maduro thắng sít sao Gonzalez vào ngày 29 tháng 7, các nhà lãnh đạo thế giới phần lớn bày tỏ sự hoài nghi về các kết quả bầu cử được tuyên bố. Cả González và Maduro đều tự tuyên bố mình là người chiến thắng trong cuộc bầu cử. Kết quả bầu cử không được Trung tâm Carter và Tổ chức các quốc gia châu Mỹ công nhận do thiếu kết quả chi tiết, cũng như bị phe đối lập phản đối, phe đối lập tuyên bố họ đã chiến thắng áp đảo và công bố quyền truy cập vào các bảng tổng kết phiếu bầu do các quan sát viên bầu cử thu thập từ phần lớn các trung tâm bỏ phiếu làm bằng chứng.[55][56][57][58][59][60] Sau khi cơ quan bầu cử công bố kết quả cuối cùng, các cuộc biểu tình đã nổ ra trên khắp đất nước.[61]

Vào tháng 1 năm 2026, sau khi căng thẳng leo thang giữa Hoa Kỳ và chính phủ Venezuela, Hoa Kỳ đã tiến hành các cuộc không kích dọc theo bờ biển Venezuela trong một phần của Chiến dịch Southern Spear. Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump thông báo trên mạng xã hội rằng tổng thống Venezuela Nicolás Maduro đã bị bắt và bị đưa ra khỏi đất nước.[62] Trong một bài đăng sau đó, Trump nói rằng Hoa Kỳ sẽ "điều hành" Venezuela cho đến khi quá trình chuyển giao quyền lực của đất nước có thể diễn ra một cách an toàn.[63]

Chính trị

[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng thống Venezuela được bầu cử với phiếu bầu trực tiếp theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu. Tổng thống đảm nhiệm vai trò là nguyên thủ quốc gia và đồng thời cũng là người đứng đầu chính phủ. Nhiệm kỳ của một tổng thống là 6 năm và tổng thống có thể được bầu lại trong một nhiệm kỳ tiếp theo. Tổng thống Venezuela có quyền bổ nhiệm phó tổng thống và quyết định quy mô và thành phần của nội các và bổ nhiệm các thành viên với sự phê chuẩn của quốc hội. Tổng thống có thể đề nghị quốc hội sửa đổi các điều luật nhưng quốc hội cũng có thế phủ quyết đề nghị của tổng thống nếu đa số phản đối.

Cơ quan lập pháp đơn viện của Venezuela là Quốc hội hay Asamblea Nacional. Quốc hội có 167 đại biểu, trong đó có 3 ghế được dành riêng dành cho người thổ dân da đỏ. Các đại biểu có nhiệm kỳ 5 năm và có thể được bầu lại tối đa thêm 2 nhiệm kỳ nữa. Các đại biểu quốc hội có thế được bầu theo danh sách các chính đảng hoặc ứng cử độc lập.

Cơ quan tư pháp tối cao là Tòa án tối cao Venezuela hay Tribunal Supremo de Justicia, với các thẩm phán được quốc hội bầu với nhiệm kỳ 12 năm. Hội đồng bầu cử quốc gia Venezuela (Consejo Nacional Electoral, hay CNE) chịu trách nhiệm trong quá trình bầu cử, có năm lãnh đạo được Quốc hội bầu ra.

Venezuela đã bãi bỏ án tử hình vào năm 1863 và là nước bãi bỏ án tử hình sớm nhất thế giới.[64][65]

Quan hệ ngoại giao

[sửa | sửa mã nguồn]
Tổng thống Venezuela Hugo Chávez cùng tổng thống Argentina Nestor Kirchner (2004)

Trong suốt thế kỷ XX, mặc dù còn có một số tranh chấp lãnh thổ với hai nước láng giềng ColombiaGuyana song Venezuela thường duy trì quan hệ hữu hảo với hầu khắp các nước Mỹ Latinh cũng như các nước Phương Tây.

Sau khi tổng thống Hugo Chávez đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1998, ông đã lãnh đạo đất nước Venezuela theo đường lối cánh tả với học thuyết của chủ nghĩa Bolivarchủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI cho châu Mỹ. Theo đó, ông muốn tách khu vực Mỹ Latinh ra khỏi sân sau của Hoa Kỳ và có những tuyên bố chống Mỹ khá mạnh bạo.[66] Dưới thời ông Hugo Chavez, quan hệ ngoại giao với các nước cánh tả và xã hội chủ nghĩa tại Mỹ Latinh được đẩy mạnh, nhất là với Nga, BoliviaCuba khi cả ba nước thiết lập một hiệp định thương mại nhằm ngăn cản ảnh hưởng của Mỹ vào khu vực.[67] Gần đây, ông Chavez cũng quan tâm và ủng hộ một số nước cánh tả đang lên khác tại khu vực như EcuadorNicaragua. Chưa kể đến việc ông cũng xúc tiến quan hệ ngoại giao với những quốc gia chống Mỹ như Belarus[68] hay Iran.[69]

Đồng thời, quan hệ ngoại giao giữa Venezuela và Mỹ cũng xấu đi nhanh chóng. Quan hệ của Venezuela với nước láng giềng Colombia, một đồng minh của Mỹ cũng ngày một tồi tệ. Đầu năm 2008, khi quân đội Colombia tấn công tiêu diệt căn cứ quân nổi dậy FARC tại lãnh thổ Ecuador, Venezuela đã phản đối mạnh mẽ và hai nước suýt xảy ra một cuộc chiến tranh.[70]

Quân đội

[sửa | sửa mã nguồn]

Quân đội Venezuela nằm dưới sự chỉ huy của Tổng tư lệnh quân đội là tổng thống Venezuela. Quân đội Venezuela được chia thành lục quân, hải quân, không quân và lực lượng phòng vệ. Bên cạnh đó còn có một số nhánh khác. Hiện nay lực lượng quân đội của Venezuela là khoảng 100.000 người. Chi phí dành cho quốc phòng mỗi năm của nước này ước tính bằng khoảng 1,7 tỉ USD (năm 2004).

Phân cấp hành chính

[sửa | sửa mã nguồn]

Venezuela được chia thành 23 tiểu bang (estados), 1 quận thủ đô (distrito capital) là thành phố Caracas, các vùng lãnh thổ phụ thuộc (Dependencias Federales) và khu vực Guyana Esequiba tranh chấp với Guyana. Ở cấp tiếp theo, Venezuela lại được chia tiếp thành 335 đô thị (municipios) rồi lại được chia tiếp thành hơn 1000 khu vực nhỏ (parroquias).

Các bang của Venezuela được nhóm lại thành 9 vùng hành chính lớn.

Bản đồ các bang của Venezuela.
Số thứ tự Bang Thủ phủ
1 Amazonas Puerto Ayacucho
2 Anzoategui Barcelona
3 Apure San Fernando de Apure
4 Aragua Maracay
5 Barinas Barinas
6 Bolivar Ciudad Bolívar
7 Carabobo Valencia
8 Cojedes San Carlos
9 Delta Amacuro Tucupita
10 Falcón Santa Ana de Coro
11 Guarico San Juan De Los Morros
12 Lara Barquisimeto
13 Mérida Mérida
14 Miranda Los Teques
15 Monagas Maturin
16 Nueva Esparta La Asuncion
17 Portuguesa Guanare
18 Sucre Cumana
19 Táchira San Cristobal
20 Trujillo Trujillo
21 Vargas La Guaira
22 Yaracuy San Felipe
23 Zulia Maracaibo

Các phân chia hành chính ngoài bang:

Các vùng hành chính

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ các vùng hành chính.
  •   Andes  (Barinas, Mérida, Táchira, Trujillo, thành phố Paez của Apure)
  •   Thủ đô  (Miranda, Vargas, quận thủ đô)
  •   Trung  (Aragua, Carabobo, Cojedes)
  •   Trung Tây  (Falcón, Lara, Portuguesa, Yaracuy)
  •   Guayana  (Bolívar, Amazonas, Delta Amacuro)
  •   Hải đảo  (Nueva Esparta, các vùng lãnh thổ liên bang)
  •   Đồng bằng  (Apure (ngoại trừ thành phố Paez), Guárico)
  •   Đông Bắc  (Anzoátegui, Monagas, Sucre)
  •   Zulia  (Zulia)
Xu bạc 5 bolivar với mặt trước là chân dung Simon Bolivar, đúc và lưu hành từ 1879 - 1936; với đường kính 37,2mm, trọng lượng 25gr và tỷ lệ bạc trong xu là 90%

"Gần 82% người dân Venezuela sống trong cảnh nghèo đói, trong đó 53% thuộc diện nghèo cùng cực, không đủ khả năng chi trả ngay cả những loại thực phẩm cơ bản nhất."

— Nhận định của một báo cáo viên đặc biệt Liên Hợp Quốc đưa ra vào tháng 2 năm 2024 sau chuyến thăm thực địa tại quốc gia này.

Theo VOA (dẫn nguồn từ AFP) vào năm 2024:

"Quốc gia dầu mỏ từng một thời thịnh vượng này đã chứng kiến GDP sụt giảm 80% trong chưa đầy một thập kỷ, buộc khoảng bảy triệu công dân phải rời bỏ đất nước. Phần lớn người dân Venezuela hiện phải sống dựa vào mức thu nhập chỉ vài đô la mỗi tháng, trong khi hệ thống y tế và giáo dục rơi vào tình trạng xuống cấp trầm trọng, cùng với sự thiếu hụt gay gắt về điện và nhiên liệu."[71]

Venezuela sở hữu một nền kinh tế hỗn hợp theo định hướng thị trường, bị chi phối bởi lĩnh vực dầu khí.[72][73] Ngành công nghiệp này chiếm khoảng một phần ba GDP, đóng góp khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu và hơn một nửa doanh thu của chính phủ. GDP bình quân đầu người năm 2016 ước tính đạt 15.100 USD, xếp thứ 109 trên thế giới. Venezuela là quốc gia có giá xăng thấp nhất thế giới do chính sách trợ giá mạnh mẽ của chính phủ đối với giá bán lẻ nhiên liệu. Khu vực tư nhân kiểm soát hai phần ba nền kinh tế quốc gia.[74]

Trong Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu năm 2025, Venezuela xếp thứ 136 trên tổng số 139 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng.[75][76]

Tính đến năm 2022, ít nhất 5% quy mô nền kinh tế Venezuela phụ thuộc vào nguồn kiều hối.[77]

Công nghiệp dầu mỏ là ngành kinh tế đóng góp nhiều nhất cho kinh tế Venezuela, tới 1/3 GDP, 80% giá trị xuất khẩu và hơn một nửa ngân sách nhà nước. Đất nước này có một nguồn dự trữ dầu mỏkhí đốt to lớn và hiện nay, Venezuela là một trong 10 nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới.[78] Những mỏ dầu chính của Venezuela nằm tại khu vực hồ Maracaibo, vịnh Venezuela và vùng châu thổ sông Orinoco. Do được chính phủ trợ cấp, Venezuela là một trong những nước có giá xăng dầu rẻ nhất thế giới. Tuy nhiên những lên xuống thất thường của giá dầu trên thị trường thế giới cũng như các cuộc khủng hoảng chính trị, đình công luôn đe dọa đến ngành kinh tế nhạy cảm này của Venezuela. Chính phủ Venezuela đang tìm cách làm đa dạng hóa nền kinh tế và tránh sự phụ thuộc quá nhiều vào dầu mỏ của nước này. Tính đến năm 2016, GDP của Venezuela đạt 333.715 USD, đứng thứ 32 thế giới và đứng thứ 4 khu vực Mỹ Latinh.

Từ thập niên 1950 đến thập niên 1980, Venezuela là một trong những cường quốc kinh tế tại Mỹ Latinh. Thu nhập bình quân của nước này gia tăng nhanh chóng đã thu hút rất nhiều lao động từ khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên khi giá dầu thế giới giảm mạnh trong thập niên 1980, nền kinh tế Venezuela đã bị một phen điêu đứng. Trong những năm sau đó,[khi nào?] giá dầu trên thị trường thế giới đã tăng trở lại và tạo điều kiện phục hồi cho nền kinh tế Venezuela. Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này là 8,4%. Thu nhập bình quân đầu người là 12.200 USD.[79] Dưới sự điều hành của Hugo Chavez tỷ lệ lạm phát đã tăng 30,9% năm 2008 và tăng 25,1% trong năm 2009 cao nhất trên toàn khu vực châu Mỹ. Mức lạm phát của Venezuela cao hơn rất nhiều 1 nước cũng thường hay bị lạm phát rất cao là Argentina. Trong khi cùng bị khủng hoảng kinh tế như Venezuela nhưng tỷ lệ lạm phát của Argentina chỉ từ 7-15% năm 2009. Kinh tế Venezuela năm 2009 theo thông báo chính thức đã giảm 2,9%.

Quang cảnh thành phố Caracas

Hugo Chavez đã thực hiện quốc hữu hóa tài sản của các tập đoàn Cargill Inc., Gruma SAB và hãng bán lẻ của Pháp là Casino Guichard Perrachon nhằm kiểm soát các chuỗi sản xuất và phân phối thực phẩm. Trong tháng 8, giá lương thực tăng 0,9% so với tháng 7 trong khi mức tăng hàng tháng là 12,5% của tháng 4. Cũng trong tháng này, tỉ lệ lạm phát của mặt hàng lương thực đã giảm xuống nhưng vẫn còn tới 39,5%. Trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6 năm nay, nền kinh tế Mỹ Latinh này đã tăng trưởng chậm lại quý thứ 5 liên tiếp và đang phải trải qua thời điểm khốn đốn với tình trạng lạm phát khi giá tiêu dùng liên tục tăng kể cả khi nhu cầu giảm xuống.[80]

Mặc dù là một quốc gia nhiều tài nguyên thiên nhiên nhưng việc phân bố tài sản tại Venezuela lại không đồng đều, khiến cho đời sống một bộ phận lớn dân nghèo gặp nhiều khó khăn. Dưới sự lãnh đạo của tổng thống Hugo Chavez, tỉ lệ người nghèo trong những năm sau đó tại Venezuela đã giảm đáng kể, từ mức 49% năm 1998 xuống còn 12,3% năm 2007.[81]

Các chương trình trợ cấp của Chavez như duy trì giá xăng ở mức dưới 0,1 USD/gallon (tương đương hơn 500 VND/lít), làm các nguồn tài nguyên của Venezuela bị phung phí trong khi các doanh nghiệp tư nhân không dám tăng mức đầu tư do lo ngại về những vụ quốc hữu hóa và sung công thường hay xảy ra bất ngờ thời Chavez khiến nền kinh tế càng thêm khó khăn giữa lúc tốc độ tăng trưởng trì trệ mà tỷ lệ lạm phát lại cao.[82]

Hugo Chavez cũng không diệt trừ được tham nhũng. Bằng cách cho giới quân sự quản lý bộ máy ngân sách cồng kềnh, ông Chavez đã tạo điều kiện cho tham nhũng lan rộng ngay trong giới quân sự. Cải cách tư pháp thì chưa đâu vào đâu. Các thể chế mới không đem lại điều gì ngoài việc đẻ ra một loạt chức sắc bất tài do ông chỉ định. Đường lối kinh tế khiến cho Venezuela càng phụ thuộc hơn nhiều vào dầu mỏ và đưa tới một loạt chính sách thắt lưng buộc bụng. Giá trị đồng tiền giảm đáng kể cũng là một hậu quả của việc này.

Những hãng sản xuất hàng tiêu dùng khổng lồ như Colgate-Palmolive hay Avon từng nỗ lực chiếm lĩnh thị trường Mỹ Latinh với các sản phẩm chủ lực như kem đánh răng, son môi. Nhưng công sức bấy lâu của họ có nguy cơ trôi ra sông ra biển khi Venezuela phá giá đồng nội tệ từ mức 2,15 bolivar ăn 1 USD xuống còn 4,3 bolivar ăn 1 USD. Đi đôi với quyết định phá giá đồng nội tệ, chính quyền Venezuela phải huy động cả quân đội để kiểm soát tình trạng tăng giá bán tại các cửa hàng. Bất chấp mọi nỗ lực của chính phủ, trong vòng 5 năm tỷ lệ lạm phát của nước này lên tới tổng cộng 160%.[83]

Venezuela hy vọng lần phá giá đầu tiên kể từ 2005 này sẽ giúp nguồn thu chính phủ tăng lên, hạn chế nhập khẩu và tăng nguồn thu từ xuất khẩu. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng đây không phải là giải pháp tốt về lâu dài. Nền kinh tế Venezuela, vốn một thời phát triển bùng nổ, nay cần những chính sách kích thích đầu tư tư nhân. Hãng đánh giá tín nhiệm Fitch cũng bày tỏ thái độ lo lắng: "Công việc kinh doanh tại Venezuela hiện đối mặt với nhiều căng thẳng liên quan đến thay đổi chính sách, môi trường kinh tế vĩ mô không ổn định, cơ cấu quản lý giá và sự bế tắc trong ngành năng lượng. Tất cả những yếu tố này làm chùn chân các nhà đầu tư".[84] Ngành khai thác dầu thô, ngành công nghiệp quan trọng nhất của Venezuela, đang gặp khó khăn nghiêm trọng vì tổng thống Hugo Chávez đã quốc hữu hóa các công ty dầu mỏ nước ngoài, cố gắng khai thác quá mức từ công nghiệp dầu mỏ để tài trợ cho những chương trình trợ cấp của ông trong khi không tái đầu tư đúng mức do đó đã hy sinh khả năng phát triển của ngành này khiến sản lượng khai thác được ngày càng thấp do hạ tầng công nghiệp dầu mỏ đang xuống cấp quá nhanh. Hiện ngành công nghiệp này đang gặp khủng hoảng đẩy toàn bộ nền kinh tế Venezuela vào khủng hoảng vì nước này quá phụ thuộc vào dầu mỏ.[85][86]

Về năng lượng, những con sông ở Venezuela đã cung cấp một lượng lớn thủy điện cho nhu cầu tiêu dùng điện năng của nước này. Hiện nay, 73% công suất phát điện của Venezuela phụ thuộc vào hệ thống thủy điện, còn hệ thống nhiệt điện lại đang hoạt động dưới mức công suất mà không có khả năng tăng lên, mặc dù nước này thuận lợi về nhiệt điện. Đồng peso tiếp tục rớt giá còn 6,3 peso ăn một đôla vào ngày ngày 25 tháng 1 năm 2010. Trong khi tỷ giá kép mà chính phủ đưa ra vào đầu tháng là 2,6 và 4,3 peso ăn một đôla.

Người dân đã tổ chức những cuộc phản đối mạnh mẽ hơn. Cùng với nguyên nhân thiếu hụt điện nước, những người phản đối cũng nói đến tình trạng mất kiểm soát đối với tội phạm khiến cho Venezuela đang có tỷ lệ tội phạm cao nhất thế giới. Người biểu tình án ngữ trong sân vận động khi diễn ra một trận đấu bóng chày để kêu gọi ông Chavez từ chức. Người biểu tình đã giương cao khẩu hiệu đậm chất thể thao: "Chavez, ông đã bị loại!" [87]

Sau cái chết của Chávez, Nicolás Maduro đã trở thành tổng thống của Venezuela sau khi đánh bại đối thủ của mình là Henrique Capriles Radonski chỉ với 235.000 phiếu bầu, tỷ lệ chênh lệch là 1,5%.[88] Maduro tiếp tục duy trì hầu hết các chính sách kinh tế của người tiền nhiệm Chávez. Khi nhậm chức tổng thống, Maduro đã phải đối mặt với tỷ lệ lạm phát cao và tình trạng thiếu hụt hàng hóa tiêu dùng trên cả nước,[89][90] những vấn đề bắt nguồn từ các chính sách của Chávez.[91]

Maduro đổ lỗi cho đầu cơ tư bản đã thúc đẩy tỷ lệ lạm phát cao và gây ra sự thiếu hụt phổ biến các nhu yếu phẩm cơ bản tại Venezuela. Ông ta nói rằng ông ta đang chiến đấu trong một "cuộc chiến kinh tế", coi các biện pháp kinh tế mà ông ta mới ban hành là "đòn phản công kinh tế" chống lại các đối thủ chính trị của ông ta, Maduro thậm chí còn cáo buộc những đối thủ của mình đang đứng sau một "âm mưu kinh tế quốc tế".[92][93][94][95][96][97] Tuy nhiên, Maduro đã bị chỉ trích vì chỉ tập trung vào dư luận, mà không hề quan tâm đến các vấn đề thực tế mà các nhà kinh tế đã cảnh báo hoặc có bất kỳ ý tưởng gì để cải thiện tình trạng khó khăn của nền kinh tế Venezuela.[98][99]

Vào năm 2014, Venezuela chính thức lâm vào suy thoái kinh tế [100] và đến năm 2016, quốc gia này có tỷ lệ lạm phát là 800%, tỷ lệ cao nhất trong lịch sử.[101][102] Quỹ tiền tệ quốc tế dự báo tỉ lệ lạm phát ở Venezuela sẽ là 1.000.000% vào năm 2018.[103][104]

Tình trạng thiếu hụt

[sửa | sửa mã nguồn]
Một người Venezuela đang thưởng thức ngon lành đồ ăn kiếm được từ một bãi rác

Tình trạng thiếu hụt hàng hóa tại Venezuela đã trở nên phổ biến sau khi các biện pháp kiểm soát giá cả cùng nhiều chính sách khác được thực thi trong khuôn khổ chính sách kinh tế của chính quyền Hugo Chávez.[105][106] Dưới thời chính quyền Nicolás Maduro, sự khan hiếm càng trở nên trầm trọng hơn do chính sách của chính phủ trong việc hạn chế cung cấp đồng đô la Mỹ cho các nhà nhập khẩu, song song với việc duy trì các biện pháp kiểm soát giá.[107]

Tình trạng khan hiếm xảy ra chủ yếu đối với các mặt hàng chịu sự điều tiết của nhà nước, bao gồm sữa, các loại thịt, cà phê, gạo, dầu ăn, bột mì, , cũng như các nhu yếu phẩm khác như giấy vệ sinh, sản phẩm vệ sinh cá nhân và thậm chí là thuốc men.[108][109][110] Hệ quả của tình trạng này là người dân Venezuela buộc phải lùng sục tìm mua thực phẩm, xếp hàng chờ đợi trong nhiều giờ đồng hồ và đôi khi phải chấp nhận tình cảnh không có những sản phẩm thiết yếu để sử dụng.[111][112][113][114][115]

Tình trạng hạn hán, kết hợp với những thiếu sót trong công tác quy hoạch và bảo trì, đã dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng về thủy điện. Nhằm đối phó với tình trạng thiếu hụt nguồn cung năng lượng, vào tháng 4 năm 2016, chính quyền Maduro đã thông báo áp dụng biện pháp cắt điện luân phiên,[116] đồng thời rút ngắn tuần làm việc của khối cơ quan chính phủ xuống chỉ còn thứ Hai và thứ Ba.[117] Một nghiên cứu phối hợp giữa nhiều trường đại học chỉ ra rằng, chỉ riêng trong năm 2016, khoảng 75% người dân Venezuela đã bị sụt cân do thiếu ăn,[118] với mức sụt giảm trung bình khoảng 8,6 kg (19 lbs). Vào tháng 3 năm 2017, tình trạng khan hiếm xăng dầu cũng bắt đầu xuất hiện tại một số khu vực trong nước.[119]

Nhân khẩu

[sửa | sửa mã nguồn]
Một bé trai ở Venezuela

Tính đến tháng 7 năm 2008, ước tính dân số Venezuela là 26.414.815 người.[120] Venezuela là một trong những quốc gia có tốc độ gia tăng dân số nhanh nhất Nam Mỹ, chỉ đứng sau Bolivia, ParaguayGuiana thuộc Pháp. Năm 2008, tốc độ gia tăng dân số của nước này là 1,5%.

Những cuộc thống nhân khẩu được thực hiện từ năm 1926 tại Venezuela không bao gồm thông tin về chủng tộc cho nên tỉ lệ các sắc dân tại Venezuela chỉ có thể được biết thông qua các số liệu ước tính. Khoảng 70% dân số Venezuela là người Mestizo, tức người lai giữa người Tây Ban Nha và người da đỏ. Khoảng 20% là người da trắng có nguồn gốc chủ yếu từ Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào NhaĐức. Bên cạnh đó, tại Venezuela còn có một số nhỏ người da đen gốc châu Phi và người các nước châu Á như Liban, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ. Khoảng 5% dân số Venezuela là người da đỏ bản địa và họ có xu hướng bị lai giữa các chủng tộc khác ngày một nhiều hơn khi xã hội Venezuela ngày càng trở nên đa dạng.

Khoảng 85% dân số Venezuela sống tập trung tại các đô thị miền bắc. Venezuela là một trong những nước có tỉ lệ dân cư sống tại thành thị cao nhất Nam Mỹ. Do đó khu vực phía nam đồng bằng Orinoco tuy chiếm đến một nửa diện tích đất nước nhưng lại vô cùng hoang vắng với chỉ 5% dân cư sống tại đó.

Ngôn ngữ

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ chính thức tại Venezuela là tiếng Tây Ban Nha. Bên cạnh đó còn có 31 ngôn ngữ của thổ dân da đỏ bản địa như tiếng Guajibo, Pemon, Warao, Wayuu, các ngôn ngữ thuộc nhóm Yanomaman. 83% dân cư theo Đạo Thiên chúa.

Tôn giáo

[sửa | sửa mã nguồn]
Nhà thờ San Juan Bautista ở Venezuela
Tôn giáo tại Venezuela (2011)[121]
  1. Công giáo Roma (71,0%)
  2. Tin lành (17,0%)
  3. Bất khả tri/Vô thần (8,00%)
  4. Khác (3,00%)
  5. Không xác định (1,00%)

Venezuela giống như hầu hết các quốc gia Nam Mỹ, là một quốc gia theo Công giáo Rôma. Ảnh hưởng của Giáo hội Công giáo ở nước này có từ thời thực dân Tây Ban Nha. Theo ước tính của chính phủ, 92% dân số trên danh nghĩa là tín hữu Công giáo Rôma và còn lại 8% là Tin Lành, các tôn giáo khác, hoặc vô thần.[122] Các ước tính của Hội đồng Tin Lành Venezuela cho rằng Giáo hội Tin Lành chiếm 10% dân số.

Có những cộng đồng Hồi giáoDo Thái giáo nhỏ nhưng có ảnh hưởng. Các cộng đồng Hồi giáo của hơn 100.000 người tập trung ở những người gốc Lebanon và Syria hiện sống ở các khu vực như Nueva Esparta, Punto Fijo và khu vực Caracas. Các con số thuộc cộng đồng Do Thái giáo là khoảng 13.000 tín đồ và chủ yếu tập trung ở Caracas.

Hiện nay có khoảng 153.000 tín đồ Mormon phần lớn ở tại Caracas.[123]

Venezuela sở hữu một hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân cấp quốc gia. Chính phủ hiện hành đã thiết lập một chương trình nhằm mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế mang tên Misión Barrio Adentro,[124] tuy nhiên hiệu quả hoạt động và điều kiện làm việc của chương trình này đã vấp phải nhiều ý kiến chỉ trích.[125][126] Tính đến tháng 12 năm 2014, ước tính có khoảng 80% các cơ sở thuộc hệ thống Barrio Adentro tại Venezuela đã bị bỏ hoang.[127][128]

Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh tại Venezuela là 19 ca trên 1.000 ca sinh vào năm 2014, thấp hơn mức trung bình của khu vực Nam Mỹ. Để so sánh, con số này tại Hoa Kỳ là 6 ca tử vong trên 1.000 ca sinh vào năm 2013. Năm 2006, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em là 17%, trong đó Delta Amacuro và Amazonas là hai khu vực ghi nhận tỷ lệ cao nhất cả nước.[129] Năm 2018, khoảng 32% người dân Venezuela không có điều kiện vệ sinh đầy đủ, chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn..[130] Vào năm 2006, nhiều loại dịch bệnh bao gồm bạch hầu, dịch hạch, sốt rét, thương hàn, sốt vàng da, tả, cũng như các bệnh viêm gan A, BD đã xuất hiện tại quốc gia này. Đến năm 2021, tình trạng béo phì trở nên phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 30% dân số trưởng thành.[5]

Năm 2004, Venezuela vận hành 150 nhà máy xử lý nước thải. Vào thời điểm đó, 13% dân số không được tiếp cận với nước uống sạch, mặc dù con số này đã có xu hướng giảm dần.

Trong cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra dưới thời Tổng thống Maduro, các chuyên gia y tế buộc phải áp dụng những phương pháp điều trị lỗi thời cho bệnh nhân; bên cạnh đó, tình trạng mất điện thường xuyên cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác chăm sóc sức khỏe.[131]

Giáo dục

[sửa | sửa mã nguồn]
Tỷ lệ mù chữ của Venezuela, dựa trên dữ liệu từ UNESCO và Instituto Nacional de Estadística (INE)

Vào năm 2008, 95,2% dân số trưởng thành tại Venezuela biết chữ.[132] Tỷ lệ nhập học ròng bậc tiểu học đạt mức 91% và tỷ lệ nhập học ròng bậc trung học là 63% vào năm 2005.[132] Venezuela sở hữu nhiều trường đại học, trong đó danh tiếng nhất phải kể đến Đại học Trung ương Venezuela (thành lập năm 1721), Đại học Zulia, Đại học Andes, Đại học Simón Bolívar và Đại học Phương Đông (Universidad de Oriente). Hiện nay, nhiều cử nhân Venezuela đang tìm kiếm cơ hội ở nước ngoài do tình hình kinh tế bất ổn và tỷ lệ tội phạm cao trong nước. Hơn 1,35 triệu cử nhân đại học đã rời bỏ đất nước kể từ khi cuộc Cách mạng Bolivar bắt đầu. Ước tính có gần 12% người dân Venezuela đang sinh sống ở nước ngoài, trong đó Ireland đã trở thành một điểm đến phổ biến đối với du học sinh.[133] Theo Claudio Bifano, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Vật lý, Toán học và Tự nhiên Venezuela, tính đến năm 2013, hơn một nửa số sinh viên tốt nghiệp ngành y đã rời khỏi Venezuela.[134]

Đến năm 2018, hơn một nửa số trẻ em Venezuela đã bỏ học, với tỷ lệ học sinh thôi học trên toàn quốc là 58%.[135][136] Tại các khu vực giáp biên giới, tỷ lệ học sinh bỏ học lên tới hơn 80%. Trên quy mô toàn quốc, khoảng 93% trường học không đáp ứng được các yêu cầu tối thiểu để vận hành, và 77% trường học thiếu hụt các nhu cầu thiết yếu như thực phẩm, nước sạch hoặc điện.[136]

Những di sản văn hóa của đất nước Venezuela mang đậm ảnh hưởng của phong cách Mỹ Latinh, thể hiện qua tất cả các mặt của đời sống như hội họa, kiến trúc, âm nhạc, các công trình lịch sử... Văn hóa Venezuela được hình thành trên nền của ba nhân tố chính: văn hóa của người da đỏ bản địa, của người Tây Ban Nha và người da đen châu Phi. Ban đầu, các yếu tố văn hóa này trộn lẫn vào nhau rồi sau đó lại phân hóa ra theo từng khu vực địa lý.

Nghệ thuật Venezuela ban đầu xoay quanh các motif tôn giáo là chủ yếu. Tuy nhiên đến cuối thế kỷ XIX, nền nghệ thuật này bắt đầu phản ánh các sự kiện lịch sử và những người anh hùng dân tộc, mà đi tiên phong là họa sĩ Martín Tovar y Tovar. Đến thế kỷ XX, chủ nghĩa hiện đại lên thay thế.

Văn học Venezuela bắt đầu phát triển sau khi người Tây Ban Nha đặt chân đến đây khai phá thuộc địa. Nền văn học bằng tiếng Tây Ban Nha chiếm địa vị độc tôn với những ảnh hưởng của các phong cách văn học từ chính quốc. Văn học xoay quanh các chủ đề chính trị phát triển trong cuộc chiến tranh giành độc lập đầu thế kỷ XIX của nhân dân Venezuela. Tiếp đó, chủ nghĩa lãng mạn lên ngôi với một số nhà văn nổi tiếng, tiêu biểu là Juan Vicente González.

Về kiến trúc, Carlos Raúl Villanueva được coi là kiến trúc sư vĩ đại nhất của đất nước Venezuela hiện đại. Ông đã thiết kế Trường Đại học Trung tâm Venezuela, một công trình được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Cuatro, một loại đàn gần giống ghita là nhạc cụ truyền thống của Venezuela. Nhiều phong cách âm nhạc độc đáo khác nhau được phát triển tại vùng đồng bằng llanos với những bài hát nổi tiếng như Alma Llanera, Florentino y el Diablo, Concierto en la LlanuraCaballo Viejo. Nhạc gaita có nguồn gốc từ vùng Zulia được ưa chuộng và hay được biểu diễn vào dịp Giáng sinh. Còn điệu nhảy truyền thống của người Venezuela là điệu nhảy joropo.

Tại Venezuela, môn thể thao phổ biến nhất là bóng chày. Gần đây, môn bóng đá cũng đang phát triển mạnh và dần thu hút khán giả nước này.

Văn hóa hoa hậu

[sửa | sửa mã nguồn]

Venezuela là một trong những quốc gia mà người dân hâm mộ các cuộc thi sắc đẹp nhất thế giới. Với một công nghệ đào tạo hoa hậu chuyên nghiệp, Venezuela đã trở thành một cường quốc hoa hậu mà không một quốc gia nào có thể sánh kịp.

Đất nước này đã lập kỉ lục 6 lần đoạt Hoa hậu Thế giới (đồng hạng nhất với Ấn Độ), 7 lần đoạt Hoa hậu Hoàn vũ (lập kỷ lục đoạt vương miện hai năm liên tiếp 2008 và 2009), 9 lần đoạt Hoa hậu Quốc tế, 2 lần đoạt Hoa hậu Trái Đất, 1 lần đoạt Nữ hoàng Du lịch Quốc tế, 1 lần đoạt Hoa hậu Hòa bình Quốc tế, 5 lần đoạt Hoa hậu Liên lục địa, 4 lần đoạt Hoa hậu Hoàn cầu, 1 lần đoạt Hoa hậu Chuyển giới Quốc tế, 1 lần đoạt Hoa vương Thế giới, 1 lần đoạt Manhunt International, 1 lần đoạt Hoa vương Quốc tế và 1 lần đoạt Hoa vương Siêu quốc gia. Bà Irene Saez, Hoa hậu Hoàn vũ 1981 của Venezuela thậm chí đã từng ra tranh cử tổng thống năm 1998 nhưng không thành công.

Hàng năm, cuộc thi Hoa hậu Venezuela được tổ chức vào tháng 9 để tìm kiếm người đại diện cho đất nước Venezuela tại các kỳ thi sắc đẹp quốc tế. Đây là sự kiện rất thu hút ở Venezuela với chương trình truyền hình trực tiếp kéo dài 4 giờ đồng hồ. Các Hoa hậu Venezuela khi tham dự các kỳ thi quốc tế thường đoạt giải cao, mà gần đây nhất là Ivian Sarcos, người chiến thắng của cuộc thi Hoa hậu Thế giới 2011 tại Anh, Gabriela Isler, người chiến thắng Hoa hậu Hoàn vũ 2013 tại Nga, Mariem Velazco chiến thắng Hoa hậu Quốc tế 2018 tại Nhật Bản, Alyz Henrich chiến thắng Hoa hậu Trái Đất 2013 tại Philippines, Valentina Figuera chiến thắng Hoa hậu Hoà Bình Quốc Tế 2019 ngay tại sân nhà Venezuela. Các Hoa hậu Venezuela khác tuy không chiến thắng ở các cuộc thi này nhưng cũng đã liên tiếp về đích ở vị trí Á hậu hoặc lọt các Top Bán kết, Chung kết.

Cuộc thi Số lần chiến thắng Năm
Miss World 6 1955, 1981, 1984, 1991, 1995, 2011
Miss Universe 7 1979, 1981, 1986, 1996, 2008, 2009, 2013
Miss International 9 1985, 1997, 2000, 2003, 2006, 2010, 2015, 2018,2023
Miss Earth 2 2005, 2013
Miss Globe 4 1988, 1990, 2000, 2006
Miss Intercontinental 5 1974, 2001, 2005, 2009, 2012
Miss Grand International 1 2019
Miss International Queen 2014
Miss Tourism Queen International 2001
Mister World 1998
Manhunt International 1999
Mister International 2013
Mister Supranational 2017
  1. ^ English: /ˌvɛnəˈzwlə/ VEN-ə-ZWAY-lə; tiếng Tây Ban Nha Mỹ Latinh: [beneˈswela] .
  2. ^ tiếng Tây Ban Nha: República Bolivariana de Venezuela.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ "Resultado Básico del XIV Censo Nacional de Población y Vivienda 2011 (Mayo 2014)" (PDF). ine.gov.ve. tr. 29. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2014.
  2. ^ "National Profiles". Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2022.
  3. ^ "Venezuela (Bolivarian Republic of)'s Constitution of 1999 with Amendments through 2009" (PDF). constituteproject.org. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2020.
  4. ^ "Venezuela country profile". BBC News. ngày 4 tháng 12 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2023.
  5. ^ a b "Venezuela". CIA World Factbook. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2026.
  6. ^ a b c d "World Economic Outlook Database, October 2023 Edition. (Venezuela)". IMF.org. International Monetary Fund. ngày 10 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2023.
  7. ^ "Income Gini coefficient". undp.org. United Nations Development Programme. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2015.
  8. ^ "Human Development Report 2025" (PDF) (bằng tiếng Anh). United Nations Development Programme. ngày 6 tháng 5 năm 2025. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2025.
  9. ^ Hà Thu (theo NYT/CNN) (ngày 20 tháng 8 năm 2018). "Toàn cảnh khủng hoảng kinh tế Venezuela". Báo điện tử VnExpress. {{Chú thích web}}: |tác giả= có tên chung (trợ giúp)
  10. ^ Scharfenberg, Ewald (ngày 1 tháng 2 năm 2015). "Volver a ser pobre en Venezuela". El Pais. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2015.
  11. ^ Herrero, Ana Vanessa; Malkin, Elisabeth (ngày 16 tháng 1 năm 2017). "Venezuela Issues New Bank Notes Because of Hyperinflation". The New York Times. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2017.
  12. ^ "Chamber of Commerce: 80% of Venezuelans are in poverty". El Universal. ngày 1 tháng 4 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016.
  13. ^
     • Gillespie, Patrick (ngày 12 tháng 12 năm 2016). "Venezuela shuts border with Colombia as cash crisis escalates". CNNMoney. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2017.

     • Gillespie, Patrick (ngày 12 tháng 4 năm 2016). "Venezuela: the land of 500% inflation". CNNMoney. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2017.
     • Rosati, Andrew (ngày 11 tháng 1 năm 2017). 11 tháng 1 năm 2017/goodbye-recession-hello-depression-venezuela-gdp-takes-10-hit "Venezuela's Economy Was the Worst Performing of 2016, IMF Estimates". Bloomberg. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2017. {{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)

  14. ^ Theo BBC
  15. ^ Cristóbal Nagel, Juan (ngày 13 tháng 7 năm 2015). "Looking Into the Black Box of Venezuela's Economy". Foreign Policy. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2015.
  16. ^ Minaya, Ezequiel; Vyas, Kejal (ngày 23 tháng 2 năm 2014). "Protesters in Venezuela Press Government". The Wall Street Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2014.
  17. ^ "Venezuelans protest en masse in rival rallies". Borneo Post. ngày 24 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2014.
  18. ^ Kurmanaev, Anatoly (ngày 7 tháng 11 năm 2013). "Venezuela Inflation Hits 16-Year High as Shortages Rise". Bloomberg.com. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014.
  19. ^ "Obama signs bill to sanction Venezuelan officials". AP News (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2025.
  20. ^ Rosati, Andrew; Soto, Noris (ngày 6 tháng 12 năm 2015). "Venezuela Seen Handing Congress to Opposition in Sunday Vote". Bloomberg.com. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2016.
  21. ^ Wilpert, Gregory (ngày 1 tháng 1 năm 2016). "Venezuela lurches right". Le Monde diplomatique (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2026.
  22. ^ Cawthorne, Andrew; Ulmer, Alexandra (ngày 15 tháng 1 năm 2016). "Venezuela decrees 'economic emergency,' reveals depth of crisis". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
  23. ^ a b Ramirez, Loïc (ngày 1 tháng 7 năm 2016). "Venezuela begins to lose patience". Le Monde diplomatique (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2026.
  24. ^ "Thousands Of Venezuelans Cross Into Colombia In Search Of Food And Medicine". The Huffington Post. ngày 17 tháng 7 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2016.
  25. ^ "Hambre en Venezuela: El 15,7% de los venezolanos se ha alimentado de residuos". Diario Las Américas. ngày 9 tháng 9 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2016.
  26. ^ "Man claims son was eaten by fellow inmates during riot in Venezuelan prison". Fox News. ngày 14 tháng 10 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2016.
  27. ^ a b "Venezuela's Maduro decried as 'dictator' after Congress annulled". Reuters. ngày 31 tháng 3 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2017.
  28. ^ Casey, Nicholas; Herrero, Ana Vanessa (ngày 1 tháng 8 năm 2017). "Jailings Raise Fears of Dictatorship in Venezuela". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2017.
  29. ^ "Venezuela's Nicolas Maduro bans opposition parties from election". The Daily Telegraph. Agence France-Presse. ngày 11 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 1 năm 2022 – qua www.telegraph.co.uk.
  30. ^ José Miguel Vivanco (ngày 31 tháng 3 năm 2017). "Venezuela's crumbling façade of democracy". Human Rights Watch. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017. This ruling is the end of Maduro administration's façade of democracy.
  31. ^ Francisco Toro (ngày 21 tháng 10 năm 2016). "It's official: Venezuela is a full-blown dictatorship". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2017.
  32. ^ "With executive order, Trump imposes new round of Venezuela sanctions". USA Today. ngày 25 tháng 8 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2019.
  33. ^ "Dollars Are Out, Euros Are In as U.S. Sanctions Sting Venezuela". Bloomberg.com. ngày 16 tháng 10 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2019.
  34. ^ Wroughton, Lesley; Ellsworth, Brian (ngày 25 tháng 9 năm 2018). "U.S. sanctions Venezuela officials, Trump slams Maduro". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2019.
  35. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên :10
  36. ^ Charner, Flora; Newton, Paula; Gallón, Natalie (ngày 21 tháng 5 năm 2018). "Opponents slam Venezuelan President Nicolas Maduro's election victory as a sham". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2018. An alliance of 14 Latin American nations and Canada, known as the Lima Group, released a statement Monday calling the vote illegitimate... The alliance includes Argentina, Mexico, Canada, Brazil, Chile, Colombia, Panama, Paraguay, St. Lucia, Guyana, Peru, Honduras, Guatemala and Costa Rica.
  37. ^ Jones, Sam; Wintour, Patrick (ngày 4 tháng 2 năm 2019). "EU countries recognise Juan Guaidó as interim Venezuelan leader". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2019.
  38. ^ Rapalo, Manuel (ngày 26 tháng 1 năm 2019). "Mexico stays neutral in Venezuela political crisis". Al Jazeera. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2019.
  39. ^ Roth, Andrew; Kuo, Lily; Agren, David; Augustin, Ed; Walker, Peter (ngày 24 tháng 1 năm 2019). "Russia and key allies vow to stand by Maduro in Venezuela crisis". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2019.
  40. ^ "Russia, Turkey, China denounce US interference in Venezuela". Al Jazeera. ngày 25 tháng 1 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2019.
  41. ^ Paul LeBlanc (ngày 6 tháng 8 năm 2019). "Trump announces total economic embargo against Venezuela". CNN. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2019.
  42. ^ a b c Mariette, Maëlle (ngày 1 tháng 5 năm 2022). "Venezuela: a 'country without a state'". Le Monde diplomatique (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2026.
  43. ^ "Nicolás Maduro Moros and 14 Current and Former Venezuelan Officials Charged with Narco-Terrorism, Corruption, Drug Trafficking and Other Criminal Charges". www.justice.gov. ngày 26 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2020.
  44. ^ Makuch, Ben (ngày 26 tháng 10 năm 2021). "MAGA, the CIA, and Silvercorp: The Bizarre Backstory of the World's Most Disastrous Coup". VICE (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2026.
  45. ^ "Venezuela coup plotters met at Trump Doral. Central figure says U.S. officials knew of plan". Miami Herald (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2026.
  46. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên RICHtoRAGS
  47. ^ Board, Editorial (ngày 23 tháng 2 năm 2018). "Opinion | Latin-America's worst-ever refugee crisis: Venezuelans". The Washington Post. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2018. This human outflow, ... is the largest displacement of people in Latin American history
  48. ^ "Gracias a las malas políticas del Gobierno bolivariano, más de 4 millones de venezolanos se han ido del país (encuesta)". La Patilla (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 19 tháng 1 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2018.
  49. ^ Forero, Juan; Protti, Tommaso (ngày 13 tháng 2 năm 2018). "Venezuela's Misery Fuels Migration on Epic Scale". The Wall Street Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2018.
  50. ^ "Venezuela: Events of 2022". World Report 2023: Venezuela. Human Rights Watch. ngày 12 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2026.
  51. ^ Turkewitz, Julie; Kurmanaev, Anatoly (ngày 19 tháng 6 năm 2020). "A Knock, Then Gone: Venezuela Secretly Detains Hundreds to Silence Critics". The New York Times. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2020.
  52. ^ "Enforced Disappearance Tool Political Repression Venezuela". Robert F. Kennedy Human Rights. 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2020.
  53. ^ "Líder da oposição nas pesquisas, María Corina Machado é inabilitada por 15 anos na Venezuela". O Globo (bằng tiếng Bồ Đào Nha). ngày 30 tháng 6 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2024.
  54. ^ "Venezuela's Supreme Court disqualifies opposition leader from running for president" (bằng tiếng Anh). ngày 27 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2024.
  55. ^ Jones, Sam (ngày 29 tháng 7 năm 2024). "'Hard to believe': Venezuela election result met with suspicion abroad". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2024.
  56. ^ "Leaders across Americas react to Venezuela election results". Reuters. ngày 29 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2024.
  57. ^ "Informe del Departamento para la Cooperación y Observación Electoral (DECO) de la Secretaría para el Fortalecimiento de la Democracia de la OEA sobre la elección presidencial de Venezuela para el Secretario General Luis Almagro" [Report of the Department for Electoral Cooperation and Observation (DECO) of the Secretariat for the Strengthening of Democracy of the OAS on the presidential election of Venezuela for the Secretary General Luis Almagro] (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Organization of American States. ngày 30 tháng 7 năm 2024. Wikidata d:Q128129159. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2024.
  58. ^ "Informacion de Centros y mesas de votacion". resultadospresidencialesvenezuela2024.com. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2024.
  59. ^ "Cómo acceder a la página web para verificar las actas electorales que Maduro bloqueó en Venezuela". La Patilla (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 30 tháng 7 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2024.
  60. ^ Vyas, Kejal; Dubé, Ryan (ngày 30 tháng 7 năm 2024). "Venezuela's Opposition Releases Election Database; Claims Big Victory Over Strongman Maduro". The Wall Street Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2024. The Venezuelan opposition has moved to show concrete evidence that the election was stolen. ... The opposition said it had collected data from 73% of the country's voting stations on its own and compiled it in a publicly accessible database on Tuesday. Using their national identification, Venezuelans can sign in and review a scanned tally sheet from their voting station showing how many votes went to each candidate. ... 'I found mine, the proof is there,' said Celina Ramirez, an opposition supporter who said she was able to log into the website to locate the tally sheet from her east Caracas voting center, which she said showed González receiving the lion's share of votes. 'There's no way the regime can fool everyone with their tricks,' she added ... The Carter Center, one of the few international organizations invited to monitor the elections, has urged Venezuela's government to release comprehensive polling data at the local level, which is needed to assess the electoral process. ...The opposition hopes the release of the database will increase pressure on Maduro's autocratic regime to make public the detailed results of the election. Also available from MSN Lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại Wayback Machine.
  61. ^ Phillips, Tom; Torres, Patricia (ngày 3 tháng 8 năm 2024). "'Maduro has lost the streets': in Venezuela's barrios, former loyal voters risk all in protests". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2025.
  62. ^ "Trump says Venezuela's Maduro captured after strikes". Reuters.
  63. ^ "Venezuela latest: Trump says the US will 'run' Venezuela until 'safe transition can take place' – watch live". BBC News (bằng tiếng Anh). ngày 3 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2026.
  64. ^ Amnesty International USA. Abolitionist and Retentionist Countries. Lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2007 tại Wayback Machine Retrieved ngày 19 tháng 8 năm 2006
  65. ^ The Death Penalty Worldwide. InfoPlease. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2006.
  66. ^ Hugo Chavez - ngọn cờ cánh tả Mỹ Latinh
  67. ^ Theo BBC - Phong trào cánh tả 3 nước Mỹ Latinh
  68. ^ Venezuela, Belarus đoàn kết chống Mỹ - Theo Press TV[liên kết hỏng]
  69. ^ Venezuela Iran's Best Friend? - Theo Venezuela Analysis
  70. ^ Quan hệ Venezuela - Colombia vẫn trên bờ vực chiến tranh - Cand Online
  71. ^ "Concern grows as Venezuela blocks election observers". Voice of America. Agence France-Presse. ngày 27 tháng 7 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2024.
  72. ^ "The Economy Of Venezuela". WorldAtlas (bằng tiếng Anh). ngày 25 tháng 4 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2024.
  73. ^ "Is socialism to blame for Venezuela's never-ending crisis?". Al Jazeera. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2020.
  74. ^ "What socialism? Private sector still dominates Venezuelan economy despite Chavez crusade". Fox News. Associated Press. ngày 18 tháng 7 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2020.
  75. ^ "GII Innovation Ecosystems & Data Explorer 2025". WIPO. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2025.
  76. ^ Dutta, Soumitra; Lanvin, Bruno (2025). Global Innovation Index 2025: Innovation at a Crossroads (bằng tiếng Anh). World Intellectual Property Organization. tr. 19. doi:10.34667/tind.58864. ISBN 978-92-805-3797-0. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2025.
  77. ^ "Venezuela: Remittances as a source of foreign exchange and economic survival" (PDF). The Dialogue Leadership for the Americas. tháng 2 năm 2022.
  78. ^ "Danh sách các nước sản xuất nhiều dầu mỏ - CIA The World Factbook". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008.
  79. ^ "Theo CIA - The World Factbook - Venezuela - Kinh tế". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008.
  80. ^ [1][liên kết hỏng]
  81. ^ Tỉ lệ người nghèo tại Venezuela giảm mạnh
  82. ^ "Bản sao đã lưu trữ". Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2010.
  83. ^ [2]
  84. ^ [3]
  85. ^ Charting The Decline Of Venezuela's Oil Industry, Forbes, Jan 29, 2019
  86. ^ Ngành công nghiệp dầu mỏ Venezuela bên bờ vực sụp đổ Lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2019 tại Wayback Machine, Kinh tế Sài Gòn, 17/3/2019
  87. ^ Venezuela: Sao lạm phát và hạn chiếu[liên kết hỏng]
  88. ^ Corrales, Javier (2015). "Autocratic Legalism in Venezuela". Journal of Democracy. Quyển 26 số 2. tr. 37–51.
  89. ^ "Venezuela's April inflation jumps to 5.7 percent: report". Reuters. ngày 17 tháng 5 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2014.
  90. ^ Ferdman, Roberto A. (ngày 26 tháng 3 năm 2014). "Venezuela's black market rate for US dollars just jumped by almost 40%". Quartz. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2014.
  91. ^ Kevin Voigt (ngày 6 tháng 3 năm 2013). "Chavez leaves Venezuelan economy more equal, less stable". CNN. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  92. ^ "Mr. Maduro in His Labyrinth". The New York Times. ngày 26 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2015.
  93. ^ "Venezuela's government seizes electronic goods shops". BBC. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2014.
  94. ^ "Maduro anuncia que el martes arranca nueva "ofensiva económica"". La Patilla. ngày 22 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2014.
  95. ^ "Maduro insiste con una nueva "ofensiva económica"". La Nacion. ngày 23 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2019.
  96. ^ Mariano Castillo and Osmary Hernandez (ngày 20 tháng 11 năm 2013). "Decree powers widen Venezuelan president's economic war". CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2014.
  97. ^ Yapur, Nicolle (ngày 24 tháng 4 năm 2014). "Primera ofensiva económica trajo más inflación y escasez". El Nacional. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014.
  98. ^ Gupta, Girish (ngày 3 tháng 11 năm 2014). "Could Low Oil Prices End Venezuela's Revolution?". The New Yorker. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2014.
  99. ^ 2 tháng 1 năm 2015/new-years-wishes-for-venezuela?_escaped_fragment_=dcC0Js "New Year's Wishes for Venezuela". Bloomberg. The Washington Post. ngày 2 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2015. {{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)[liên kết hỏng]
  100. ^ Pons, Corina; Cawthorne, Andrew (ngày 30 tháng 12 năm 2014). "Recession-hit Venezuela vows New Year reforms, foes scoff". Reuters.
  101. ^ Cristóbal Nagel, Juan (ngày 13 tháng 7 năm 2015). "Looking Into the Black Box of Venezuela's Economy". Foreign Policy. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2015.
  102. ^ Pons, Corina (ngày 20 tháng 1 năm 2017). "Venezuela 2016 inflation hits 800 percent, GDP shrinks 19 percent". Reuters. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2017.
  103. ^ 25 tháng 1 năm 2018/imf-sees-venezuela-inflation-soaring-to-13-000-percent-in-2018 "IMF Projects Venezuela Inflation Will Soar to 13,000 Percent in 2018". Bloomberg. ngày 26 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2018. {{Chú thích báo}}: Kiểm tra giá trị |url= (trợ giúp)
  104. ^ Daniels, Joe Parkin (ngày 25 tháng 7 năm 2018). "Life's a struggle as Venezuela inflation heads for one million per cent". Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2019 – qua www.theguardian.com.
  105. ^ "Venezuela's currency: The not-so-strong bolívar". The Economist. ngày 11 tháng 2 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2013.
  106. ^ "Venezuela's black market rate for US dollars just jumped by almost 40%". Quartz. ngày 26 tháng 3 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2014.
  107. ^ Dulaney, Chelsey; Vyas, Kejal (ngày 16 tháng 9 năm 2014). "S&P Downgrades Venezuela on Worsening Economy Rising Inflation, Economic Pressures Prompt Rating Cut". The Wall Street Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2014.
  108. ^ "Venezuela's currency: The not-so-strong bolívar". The Economist. ngày 11 tháng 2 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2013.
  109. ^ "La escasez también frena tratamientos contra cáncer" (bằng tiếng Tây Ban Nha). Venezuela. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014.
  110. ^ "Venezuela sufre escasez de prótesis mamarias" (bằng tiếng Tây Ban Nha). El Nuevo Herald. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2014.
  111. ^ "Why are Venezuelans posting pictures of empty shelves?". BBC. ngày 8 tháng 1 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2015.
  112. ^ Cawthorne, Andrew (ngày 21 tháng 1 năm 2015). "In shortages-hit Venezuela, lining up becomes a profession". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015.
  113. ^ MacDonald, Elizabeth (ngày 26 tháng 5 năm 2016). "Exclusive: Harrowing Video Shows Starving Venezuelans Eating Garbage, Looting". Fox Business. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2016.
  114. ^ Sanchez, Fabiola (ngày 8 tháng 6 năm 2016). "As hunger mounts, Venezuelans turn to trash for food". Associated Press. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2016.
  115. ^ "Mangoes fill the gaps in Venezuela's food crisis". Canadian Broadcasting Corporation. ngày 7 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2016.
  116. ^ Venezuela Announces Daily 4-Hour Power Cuts Amid Drought : The Two-Way Lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2018 tại Wayback Machine. NPR (22 April 2016). Retrieved on 15 June 2016.
  117. ^ Venezuela Announces Daily 4-Hour Power Cuts Amid Drought : The Two-Way Lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2018 tại Wayback Machine. NPR (22 April 2016). Retrieved on 15 June 2016.
  118. ^ Pestano, Andrew V. (ngày 19 tháng 2 năm 2017). "Venezuela: 75% of population lost 19 pounds amid crisis". UPI. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017.
  119. ^ Suarez, Roberth (ngày 22 tháng 3 năm 2017). "Fotos: Escasez de gasolina se agudiza en Barquisimeto". El Impulso (bằng tiếng Tây Ban Nha). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2017.
  120. ^ "CIA - The World Factbook - Venezuela - Nhân khẩu". Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2008.
  121. ^ Aguire, Jesus Maria (tháng 6 năm 2012). "Informe Sociográfico sobre la religión en Venezuela" (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). El Centro Gumilla. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2015.
  122. ^ International Religious Freedom Report 2008: Venezuela. U.S. Department of State (2008). This article incorporates text from this source, which is in the public domain.
  123. ^ "The Church of Jesus Christ of Latter-day Saints membership statistics". Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2013.
  124. ^ "Health Care for All: Venezuela's Health Missions at Work". Venezuela Information Office. 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2008.
  125. ^ "Cabildo Metropolitano evaluará funcionamiento de Barrio Adentro". El Universal. ngày 6 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2014.
  126. ^ Vinogradoff, Ludmila (ngày 13 tháng 11 năm 2014). "16 November 2014". ABC (Spanish). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2014.
  127. ^ Castro, Arachu (2008). "Barrio adentro a look at the origins of a social mission". David Rockefeller Center for Latin American Studies, Harvard University. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2009.
  128. ^ "El 80% de los módulos de Barrio Adentro del país está cerrado". La Patilla. ngày 8 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2014.
  129. ^ "Venezuela". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2006.. FAO.org.
  130. ^ Venezuela Lưu trữ ngày 17 tháng 1 năm 2018 tại Wayback Machine. Unicef.org.
  131. ^ Dreier, Hannah (ngày 24 tháng 3 năm 2015). "Mastectomies on the rise in Venezuela amid economic crisis". Associated Press. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015.
  132. ^ a b "Human Development Report 2009 – Venezuela (Bolivarian Republic of)". Hdrstats.undp.org. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010.
  133. ^ Goodman, Joshua (ngày 31 tháng 1 năm 2014). "Venezuela's Best and Brightest Camp on Sidewalks". ABC News. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2014.
  134. ^ Arzt, E.; Orjeda, G.; Nobre, C.; Castilla, J.C.; Barañao, L.; Ribeiro, S.; Bifano, C.; Krieger, J.E.; Guerrero, P.C. (ngày 12 tháng 6 năm 2014). "Capacity building: Architects of South American science" (PDF). Nature. 510 (7504): 209–212. doi:10.1038/510209a. PMID 24926500. S2CID 38221305. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2014.
  135. ^ "Deserción escolar se ubica en 58% en todo el país". La Patilla (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2018.
  136. ^ a b "Deserción escolar alcanza el 58% en todo el país". Contexto Diario (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2018.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]