Bước tới nội dung

Praha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Prague)
Praha
  Thủ đô  
Thành phố thủ đô Praha
Hlavní město Praha
Trên cùng, theo chiều kim đồng hồ: toàn cảnh Lâu đài Praha, Phố Nhỏcầu Karl; các tòa nhà cao tầng tại phường Pankrác; phố Mostecká; Quảng trường Phố Cổ; Cổng vào cầu Karl; Nhà hát Quốc gia
Huy hiệu của Praha
Huy hiệu
Khẩu hiệu: "Praga Caput Rei publicae" (tiếng Latinh)[1]
"Praha, Thủ phủ nước Cộng hòa"
cùng một số khẩu hiệu khác  
Vị trí của Praha
Praha trên bản đồ Cộng hòa Séc
Praha
Praha
Praha trên bản đồ Châu Âu
Praha
Praha
Quốc gia Séc
Thành lập vàoThế kỷ V
Chính quyền
  Thị trưởngZdeněk Hřib (Đảng Hải tặc)
Diện tích[3]
  Thủ đô496 km2 (192 mi2)
  Đô thị298 km2 (115 mi2)
Độ cao cực đại399 m (1,309 ft)
Độ cao cực tiểu172 m (564 ft)
Dân số (2022-01-01)[4]
  Thủ đô1.275.406
  Mật độ2,600/km2 (6,700/mi2)
  Vùng đô thị2.709.418[5]
Múi giờUTC+1, UTC+2
  Mùa  (DST)Giờ mùa hè Trung Âu (UTC+2)
Mã bưu chínhTừ 100 00 đến 199 00
ISO 3166-22
 ISO 3166CZ-10
Biển số xeA, AA – AZ
Thành phố kết nghĩaĐài Bắc
GRP (danh nghĩa)[6]2019
 – Tổng60 tỷ euro
 – Bình quân đầu người46.400 euro
HDI (2019)0,968[7]rất cao · hạng 1
Websitewww.praha.eu
Nhà thờ Týn nhìn từ phía đông

Praha (tiếng Séc: Praha, tiếng Đức: Prag, tiếng Anh: Prague) là thành phố lớn nhất, đồng thời là thủ đô của Tiệp Khắc từ năm 1918 đến 1993 và của Cộng hòa Séc từ năm 1993. Với dân số khoảng 1,3 triệu người, Praha đứng thứ 15 trong số các thành phố lớn nhất Liên minh châu Âu. Ngoài ra, mỗi ngày có khoảng 300.000 người từ nơi khác đến làm việc, nâng tổng dân số vùng đô thị Praha lên gần 2 triệu người. Thành phố nằm bên sông Vltava ở miền trung vùng Bohemia.[8] Praha là một trong 14 đơn vị hành chính cấp vùng của Cộng hòa Séc và được đánh giá là một trong những khu vực giàu có nhất châu Âu.[9]

Praha sở hữu di sản lịch sử lâu đời của Bohemia, từng là kinh đô của các triều đại lớn như nhà Luxemburg và nhà Habsburg. Thành phố bắt đầu xuất hiện trong các văn bản viết từ thế kỷ X, dù khu vực xung quanh đã có người sinh sống từ thời tiền sử. Các bộ tộc Slav bắt đầu định cư tại đây từ thế kỷ VI, tiếp quản vùng đất từng là nơi sinh sống hơn 500 năm của người Marcomanni gốc Đức và trước đó nữa là bộ tộc Boii thuộc người Celt. Sau khi nhà Přemyslid cho xây dựng hai tòa lâu đài vào thế kỷ IX và X, các thương nhân Do Thái và Đức đã đến đây giao thương sầm uất. Khoảng năm 1230, khu vực này phát triển thành thị trấn hoàng gia. Đến thế kỷ XIV, dưới thời trị vì của các Hoàng đế La Mã Thần thánh, Praha trở thành trung tâm chính trị và văn hóa của cả vùng Trung Âu. Năm 1348, Đại học Praha (Đại học Charles) được thành lập tại đây, trở thành trường đại học đầu tiên ở phía bắc dãy Alps và phía đông Paris. Thành phố cũng là nơi ra đời của một trong những trường đại học kỹ thuật và nhạc viện lâu đời nhất châu Âu. Trong nhiều thế kỷ, Praha là nơi giao thoa của nhiều dòng văn hóa, nơi văn hóa Séc, Đức và Do Thái hòa quyện, tạo nên một đời sống nghệ thuật và trí thức phong phú.

Trung tâm lịch sử của Praha đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Thành phố mệnh danh là "Thành phố vàng" này nổi tiếng với không gian kiến trúc GothicBaroque đồng nhất. Các địa danh danh tiếng như Lâu đài Praha, Cầu Karl, đồng hồ thiên văn thời trung cổ, nghĩa trang Do Thái cổ cùng hội đường Do Thái giáo lâu đời nhất còn hoạt động trên thế giới đã đưa Praha trở thành một điểm đến du lịch hàng đầu. Với hơn 5 triệu du khách quốc tế ghé thăm mỗi năm, Praha luôn nằm trong tốp 10 thành phố thu hút du khách nhất châu Âu.[10]

Địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí địa lý

[sửa | sửa mã nguồn]

Praha nằm ở trung tâm phía tây Cộng hòa Séc bên sông Vltava, cách điểm hợp lưu với sông Elbe tại Mělník khoảng 40 km. Theo đường chim bay, khoảng cách từ thành phố đến các điểm biên giới cực bắc của quốc gia là khoảng 110 km, phía tây và phía nam khoảng 170 km, còn phía đông khoảng 320 km.

Phần lớn thành phố nằm trong một thung lũng rộng do sông Vltava bồi đắp. Đoạn sông chảy qua nội thành dài 30 km, tạo thành một khúc quanh lớn về phía bắc. Ở phía nam của khúc quanh này là trung tâm lịch sử, nơi bị chi phối bởi hai ngọn đồi ở phía bắc (với lâu đài Hradčany) và phía nam (với lâu đài Vyšehrad). Phần còn lại của thung lũng được bao bọc bởi nhiều ngọn đồi khác như Letná, Vítkov, Větrov, Skalka, Emauzy, Karlov và cao nhất là ngọn đồi Petřín. Trong thế kỷ XX, hàng loạt làng mạc lân cận được sáp nhập, mở rộng lãnh thổ đô thị sâu vào vùng cao nguyên Praha (Pražská plošina).

Sông Vltava chảy vào thành phố từ phía nam ở độ cao khoảng 190 m và rời đi ở phía bắc ở độ cao khoảng 176 m. Độ sâu trung bình của sông là 2,75 m và đạt tối đa 10,5 m. Sông chảy bao quanh một số cù lao, nổi bật ở phía nam cầu Karl có các đảo Slovanský ostrov, Dětský ostrov, Střelecký ostrov và ở phía tây cầu Karl có đảo Kampa.

Địa hình cao dần về phía tây và phía nam. Ở phía tây, ngọn đồi Bílá hora ("Núi Trắng") cao 381 m, trong khi điểm giáp ranh ranh giới phía tây nam đạt độ cao 397 m. Ở phía nam, đồi Čihadlo cao tới 385 m.[11]

Về mặt hành chính, Praha nằm hoàn toàn lọt giữa vùng Trung Bohemia (Středočeský kraj).

Toàn cảnh Praha nhìn từ đồi Petřín về hướng đông

Khí hậu

[sửa | sửa mã nguồn]
Phố Nerudova tại Phố Nhỏ (Malá Strana) vào mùa đông (2010)

Praha có khí hậu ôn đới, chịu ảnh hưởng kết hợp của cả khí hậu đại dương lẫn khí hậu lục địa. Tháng lạnh nhất là tháng 1 với nhiệt độ trung bình ban ngày là 1 °C và ban đêm xuống khoảng -3 °C. Tháng nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình ban ngày là 24 °C và ban đêm là 13 °C. Nhiệt độ trung bình hằng năm đạt khoảng 8 °C; kỷ lục mùa đông từng xuống tới -17 °C (năm 2006) và mùa hè từng đạt đỉnh 35 °C. Lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hè (tháng 5 đạt cao nhất: 77 mm), trong khi mùa đông tương đối khô ráo (từ tháng 10 đến tháng 3 chỉ khoảng 23–32 mm). (Các số liệu đo đạc từ trạm khí tượng tại sân bay Václav Havel Praha).

So với mức trung bình giai đoạn 1961–1990, những năm gần đây nhiệt độ trung bình tại thành phố đã tăng khoảng 1 °C và lượng mưa giảm khoảng 20 mm.

Dữ liệu khí hậu của Praha (1961–1990)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 12.1
(53.8)
18.1
(64.6)
24.1
(75.4)
29.7
(85.5)
33.0
(91.4)
33.2
(91.8)
36.3
(97.3)
35.2
(95.4)
32.6
(90.7)
25.1
(77.2)
19.0
(66.2)
17.8
(64.0)
36.3
(97.3)
Trung bình ngày tối đa °C (°F) 0.4
(32.7)
2.7
(36.9)
7.7
(45.9)
13.2
(55.8)
18.3
(64.9)
21.4
(70.5)
23.3
(73.9)
23.0
(73.4)
19.0
(66.2)
13.1
(55.6)
6.0
(42.8)
1.9
(35.4)
12.5
(54.5)
Trung bình ngày °C (°F) −2.0
(28.4)
−0.6
(30.9)
3.1
(37.6)
7.6
(45.7)
12.5
(54.5)
15.6
(60.1)
17.1
(62.8)
16.6
(61.9)
13.2
(55.8)
8.3
(46.9)
3.0
(37.4)
−0.2
(31.6)
7.9
(46.2)
Tối thiểu trung bình ngày °C (°F) −5.3
(22.5)
−4.2
(24.4)
−1.3
(29.7)
2.4
(36.3)
7.1
(44.8)
10.4
(50.7)
11.8
(53.2)
11.5
(52.7)
8.6
(47.5)
4.0
(39.2)
−0.2
(31.6)
−3.4
(25.9)
3.4
(38.1)
Thấp kỉ lục °C (°F) −25.5
(−13.9)
−22.5
(−8.5)
−19.0
(−2.2)
−7.1
(19.2)
−2.4
(27.7)
−0.6
(30.9)
5.0
(41.0)
3.4
(38.1)
−0.5
(31.1)
−5.5
(22.1)
−12.4
(9.7)
−23.4
(−10.1)
−25.5
(−13.9)
Lượng Giáng thủy trung bình mm (inches) 23.6
(0.93)
22.6
(0.89)
28.1
(1.11)
38.2
(1.50)
77.2
(3.04)
72.7
(2.86)
66.2
(2.61)
69.6
(2.74)
40.4
(1.59)
30.5
(1.20)
31.9
(1.26)
25.3
(1.00)
526.3
(20.72)
Lượng tuyết rơi trung bình cm (inches) 17.9
(7.0)
15.9
(6.3)
10.3
(4.1)
2.9
(1.1)
0.0
(0.0)
0.0
(0.0)
0.0
(0.0)
0.0
(0.0)
0.0
(0.0)
0.1
(0.0)
8.4
(3.3)
45.9
(18.1)
101.4
(39.9)
Số ngày giáng thủy trung bình (≥ 1.0 mm) 7.1 5.9 6.6 7.7 10.0 10.4 9.4 9.0 7.3 5.6 7.4 7.2 93.6
Độ ẩm tương đối trung bình (%) 85 82 76 70 70 71 70 72 77 81 85 85 77
Số giờ nắng trung bình tháng 50.0 72.4 124.7 167.6 214.0 218.3 226.2 212.3 161.0 120.8 53.9 46.7 1.667,9
Nguồn: NOAA[12]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời tiền sử đến thế kỷ XXI

[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng đất Praha ngày nay đã có người cư trú liên tục từ thời kỳ đồ đá. Lưu vực Praha là một trong những khu vực đông dân nhất ở Bohemia thời tiền sử. Đến khoảng năm 50 TCN, bộ tộc Boii thuộc người Celt đến định cư, rồi nhường chỗ cho người Marcomanni gốc Đức trong suốt hơn 5 thế kỷ tiếp theo. Những nhóm người Slav đầu tiên bắt đầu di cư đến đây từ nửa sau thế kỷ VI. Vào thế kỷ IX, Lâu đài Praha được xây dựng tại khu vực ngoại vi nay thuộc Phố Nhỏ, và đến thế kỷ X, tòa lâu đài thứ hai được lập nên tại Vyšehrad để làm đại bản doanh của nhà Přemyslid. Dưới sự bảo vệ của hai tòa lâu đài, các khu dân cư hai bên sông Vltava phát triển nhanh chóng, trở thành nơi sinh sống của nghệ nhân địa phương cũng như thương nhân Đức và Do Thái. Khoảng năm 1230–1234, Vua Wenceslaus I cho củng cố hệ thống phòng thủ xung quanh các khu định cư dọc sông Vltava và ban đặc quyền thành phố. Từ đó, Praha trở thành kinh đô hoàng gia của các vị vua Bohemia. Con trai ông là Přemysl Otakar II đã di dời cư dân người Séc sang bờ kia sông Vltava và thành lập Phố Nhỏ (Malá Strana) vào năm 1257. Đến trước năm 1320, khu vực thứ ba của Praha là Hradčany ở phía tây lâu đài cũng được các công tước thành lập.

Dưới thời Hoàng đế Karl IV và con trai ông là Wenceslaus IV, Praha phát triển rực rỡ và trở thành kinh đô của Đế quốc La Mã Thần thánh trong nửa sau thế kỷ XIV. Thành phố đạt đến đỉnh cao về kinh tế, văn hóa và chính trị. Năm 1348, Đại học Karl được thành lập, là trường đại học đầu tiên tại Trung Âu. Cùng với việc mở rộng Phố Mới trong năm đó, Praha có hơn 40.000 dân, trở thành thành phố lớn thứ tư phía bắc dãy Alps và đứng thứ ba châu Âu về diện tích. Từ năm 1419, thành phố rơi vào tình trạng bùng nổ xung đột và bị tàn phá nặng nề trong cuộc Chiến tranh Hussite.

Cuối thế kỷ XVI, Hoàng đế Rudolf II chọn Praha làm kinh đô hoàng gia. Thời kỳ này chứng kiến sự ra đời của hàng loạt cung điện và nhà thờ mang phong cách Baroque nguy nga. Sự kiện Ném qua cửa sổ ở Praha năm 1618 đã châm ngòi cho cuộc Chiến tranh Ba Mươi Năm. Tiếp đó, cuộc Chiến tranh Bảy Năm cũng để lại nhiều tổn thất nặng nề cho thành phố. Năm 1784, bốn thị trấn độc lập trước đây là Hradčany, Phố Nhỏ (Malá Strana), Phố Cổ (Staré Město) và Phố Mới (Nové Město) chính thức sáp nhập thành một thành phố Praha thống nhất.

Trong thế kỷ XIX, Praha trải qua thời kỳ phục hưng văn hóa mạnh mẽ. Bảo tàng Quốc gia và Nhà hát Quốc gia lần lượt được thành lập. Khoảng năm 1860, cộng đồng người Đức tại Praha — vốn chiếm đa số từ thời Trung cổ — bắt đầu trở thành nhóm thiểu số. Trong cuộc điều tra dân số năm 1930 của Tiệp Khắc, có khoảng 42.000 công dân Praha khai báo tiếng Đức là tiếng mẹ đẻ, sống tập trung chủ yếu ở khu Phố Cổ và Phố Nhỏ.

Vào khoảng năm 1900, Praha mở rộng cửa đón nhận và trở thành trung tâm sáng tác sôi động của giới nghệ sĩ, nhà văn trẻ cả người Séc lẫn người Đức. Riêng trong lĩnh vực văn học đã hình thành ba nhóm tác giả thi đua gay gắt: "Nhóm Praha nhỏ" gồm Max Brod, Franz Kafka, Felix Weltsch và Oskar Baum; hội "Wefa" quy tụ nhiều cây bút đa dạng; cùng nhóm "Tân lãng mạn" gồm những gương mặt nổi tiếng như Rainer Maria Rilke, Gustav Meyrink và Franz Werfel. Trong thời kỳ này, Praha được biết đến như một đô thị đa văn hóa năng động dưới thời Đế quốc Habsburg, dù giữa các cộng đồng dân tộc vẫn tồn tại không ít mâu thuẫn xã hội.

Sau Thế chiến thứ nhất, phong trào dân tộc Séc do Tomáš Garrigue Masaryk lãnh đạo đã đạt được mục tiêu thành lập nhà nước Tiệp Khắc độc lập cho người Séc và người Slovak, với Praha là thủ đô. Mặc dù phải chịu nhiều sức ép từ các cuộc tranh chấp sắc tộc, Tiệp Khắc vẫn duy trì thể chế dân chủ cho tới tận cuối những năm 1930. Số phận đất nước bị định đoạt bởi Hiệp định München năm 1938 và cuộc xâm lược của phát xít Đức vào năm 1939. Praha trở thành thủ đô của Lãnh thổ Bảo hộ Bohemia và Moravia. Trong số 120.000 người Do Thái sinh sống tại Bohemia thời điểm đó, phần lớn ở Praha, Đức Quốc xã đã sát hại khoảng 78.000 người. Khi Thế chiến thứ hai sắp sửa kết thúc, ngày 1 tháng 5 năm 1945, tin tức về cái chết của Hitler lan đến Praha. Mặc dù phát xít Đức hạ lệnh treo cờ rủ ba ngày, thành phố vẫn tương đối bình tĩnh cho đến khi Hồng quân Liên Xô áp sát. Chiều ngày 4 tháng 5, cuộc nổi dậy của nhân dân Praha bùng nổ, các chướng ngại vật được dựng lên khắp nơi. Ngày 9 tháng 5, các đơn vị thuộc Quân đội Giải phóng Nga của Tướng Andrey Vlasov — dù trước đó chiến đấu cho phe Đức — đã chuyển hướng sang hỗ trợ lực lượng nổi dậy. Hồng quân Liên Xô sau đó tiến vào làm chủ Praha sau những trận đánh ác liệt. Theo lệnh của nhà độc tài Liên Xô Stalin, nhiều binh sĩ thuộc lực lượng Vlasov cùng bản thân ông đã bị bắt giữ.

Ngay sau chiến tranh kết thúc vào tháng 5 năm 1945, hầu hết cộng đồng người Đức tại Praha bị trục xuất. Hàng nghìn người bị giam giữ hoặc tử vong trong các trại tập trung. Theo các sắc lệnh Beneš, tài sản của người Hungary tại Praha cũng bị tịch thu và đến năm 1947, một phần trong số họ bị buộc phải tái định cư hoặc bị trục xuất sang Hungary. Tháng 2 năm 1948, phe Cộng sản do Klement Gottwald lãnh đạo lên nắm quyền tại Praha.

Năm 1968, phong trào Mùa xuân Praha do chính quyền tiến bộ khởi xướng nhằm xây dựng "chủ nghĩa xã hội mang khuôn mặt người" đã bị lực lượng quân sự của Khối Warszawa can thiệp và dập tắt bằng vũ lực.

Năm 1989, Praha trở thành tâm điểm của cuộc Cách mạng Nhung, chấm dứt chế độ xã hội chủ nghĩa tại Tiệp Khắc và dẫn đến sự phân chia ôn hòa hai quốc gia Séc và Slovakia sau đó. Ngoài ra, đại sứ quán Tây Đức tại Praha cũng đi vào lịch sử khi trở thành nơi tị nạn cho hàng nghìn công dân Đông Đức trước thời điểm sụp đổ Bức tường Berlin.

Biến động dân số

[sửa | sửa mã nguồn]

Thủ đô Praha hiện có khoảng 1,3 triệu dân, chiếm hơn 10% dân số cả nước. Tuy nhiên, cư dân tập trung chủ yếu ở các quận ngoại thành và các khu đô thị mới. Trung tâm lịch sử của thành phố chỉ có khoảng 40.000 người sinh sống.

Tỷ lệ thất nghiệp của Praha duy trì ở mức thấp trong nhiều năm, chỉ khoảng 3,43% (tương đương 41.000 người).

Giai đoạn 1230 – 1880
Năm Dân số
1230khoảng 3.000–4.000[E 1]
1370khoảng 40.000[E 2]
1600khoảng 60.000[E 2]
180476.000
1837105.500
1850118.400 (157.200)[E 3]
1880162.300 (314.400)[E 3]
Giai đoạn 1900 – 1998
Năm Dân số
1900201.600 (514.300)[E 3]
1925718.300
1950931.500
19801.182.800
19981.193.300
Từ năm 2001
Năm Dân số
20011.169.100
20051.173.000
20071.194.407
20081.233.211
20121.241.664

Ghi chú

  1. Chỉ tính khu Phố Cổ.
  2. 1 2 Bao gồm Phố Cổ, Phố Mới, Phố Nhỏ và Hradčany.
  3. 1 2 3 Tính cả vùng ngoại ô.

Các số liệu trong ngoặc đơn phản ánh tổng dân số tính cả các khu vực ngoại ô sáp nhập vào Praha ở từng thời điểm.

"Thành phố vàng" nhìn từ Tháp Thuốc súng

Là một trong những đô thị cổ kính và lớn nhất Trung Âu, Praha may mắn không bị tàn phá nặng nề trong Thế chiến thứ hai. Ngày nay, thành phố là một trung tâm du lịch có tầm quan trọng đặc biệt. Từ năm 1992, trung tâm lịch sử của Praha đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.

Kiến trúc

[sửa | sửa mã nguồn]
Quảng trường Phố Cổ hướng về Tòa thị chính Phố CổNhà thờ Týn
Tòa nhà Cộng đồng (Obecní dům) mang phong cách Tân nghệ thuật (Art Nouveau), xây dựng năm 1912

Lâu đài Praha cùng Nhà thờ chính tòa Thánh Vitus, Cầu KarlQuảng trường Phố Cổ với nhà thờ Týn, khu Ungelt, Tòa thị chính và đồng hồ thiên văn là những điểm thu hút du khách nổi tiếng nhất. Tòa lâu đài thời trung cổ thứ hai là Vyšehrad với Nhà thờ Thánh Phêrô và Phaolô cũng là một công trình kiến trúc biểu tượng. Khu Phố Cổ gây ấn tượng bởi những ngôi nhà cổ mang đậm dấu ấn kiến trúc Romanesque và Gothic, nằm xen kẽ giữa các nhà thờ cổ kính và những con hẻm nhỏ hẹp. Tại khu Phố NhỏHradčany, các cung điện nguy nga từ thời Phục hưngBaroque chiếm ưu thế. Trên đảo Kampa ở Phố Nhỏ có bức tường John Lennon nổi tiếng. Không xa nơi đây là Tu viện Strahov. Tại khu Phố Do Thái Josefov, nhiều hội đường Do Thái giáo cùng nghĩa trang Do Thái cổ vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.

Vào giữa thế kỷ XIV, khu Phố Mới được quy hoạch xây dựng với Tòa thị chính Mới tại Quảng trường Karl (Karlovo náměstí), cùng hàng loạt nhà thờ, tu viện Gothic và Baroque. Nơi đây sở hữu Quảng trường Wenceslas — quảng trường lớn và sầm uất nhất Praha — hiện nay đã trở thành trung tâm thương mại hiện đại với các dãy phố mua sắm sầm ố. Gần đó là nhà thờ Tuyết Đức Mẹ Maria (Panna Maria Sněžná).

Praha cũng nổi tiếng với nhiều công trình theo phong cách Tân nghệ thuật (Art Nouveau). Đặc biệt, thành phố là nơi duy nhất trên thế giới có các công trình kiến trúc áp dụng trường phái Lập thể (Kubismus), tiêu biểu là Ngôi nhà Đức Mẹ Đen do kiến trúc sư Josef Gočár thiết kế. Kiến trúc hiện đại cũng ghi dấu ấn với các công trình độc đáo như biệt thự Villa Müller của Adolf Loos hay Nhà nhảy múa của Frank Gehry.

GRDP bình quân đầu người của Praha cao gấp đôi mức trung bình toàn quốc. Năm 2002, số liệu này đạt 32.357 EUR, tương đương 153% mức trung bình của Liên minh châu Âu. Praha hiện là nơi đặt trụ sở châu Âu của nhiều tập đoàn đa quốc gia.

Tòa nhà cao tầng tại Praha
Tòa nhà Nhà nhảy múa của Vlado Milunić và Frank Gehry

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "Vojtisek"
  2. Milan Ducháček, Václav Chaloupecký: Hledání československých dějin (2014), cited after abicko.avcr.cz Lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2018 tại Wayback Machine.
  3. "Demographia World Urban Areas" (PDF). Demographia.com. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2013.
  4. "Population of Municipalities – 1 January 2022". Czech Statistical Office. ngày 29 tháng 4 năm 2022.
  5. "Population on 1 January by five-year age group, sex and metropolitan regions". Eurostat. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2020.
  6. "GDP Report". ec.europa.eu. ngày 28 tháng 2 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2021.
  7. "Sub-national HDI - Subnational HDI - Global Data Lab". Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2018.
  8. Eurostat. "Urban Audit 2004". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2008. {{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |access-date= (trợ giúp)
  9. Europas reichste Regionen: Bratislava und Prag vor Wien Wirtschaftsblatt vom 21. Mai 2015
  10. Meistbesuchte Städte der Welt: London auf Platz eins ForgSight.com, Angaben nach MasterCard Global Destination Cities Index; Artikel vom 15. Juni 2015, abgerufen am 13. August 2015.
  11. Alle Höhenangaben gerundet nach: Turistická mapa, Wanderkarte 1: 50.000. Hrsg.: Klub českých turistů. Bl. 36. Okolí Prahy západ. 3. vydání, dotisk. TRASA, Prag 2004. ISBN 978-80-7324-006-6. Kartengrundlage: MO ČR (Ministerstvo obrany České republiky, Verteidigungsministerium der Tschechischen Republik)
  12. "Praha 6, Ruzyne Climate Normals 1961–1990". National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2015.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]